Tuần báo TMMĐ PV Ts Nguyễn Đình Thắng về 2 việc liên quan đến V iệt Tân

Trần Mạnh Vũ: Xin chào Ts Nguyễn Đình Thắng. Năm 2014, cộng đồng đã xôn xao vì bộ phim “Terror in Little Sài Gòn”. Phản ứng của đảng Việt Tân như mọi người đã rõ: cuống cuồng xuất hiện trên mọi phương tiện truyền thông có thể để lôi kéo cộng đồng lên án PBS. Tuy vậy, khá nhiều người trong cộng đồng đã phản ứng với VT qua nhiều cách, mạnh nhất là viết bài tự do. Trong tháng 1/2016, có hai sự kiện đáng lưu ý dính líu đến đảng VT. Chúng tôi quan tâm chuyện này vì nhiều độc gỉa của báo chúng tôi nhận định rằng: 1) VT luôn có hành động giống như “cướp credit” 2) Hoặc “mập mờ” để gây ảnh hưởng nhằm mục đích tạo ấn tượng cho người trong nước rằng VT là đảng lớn duy nhất ở hải ngoại. 3) Hành động giống “mafia” của Mặt Trận trong một đất nước pháp trị (Hoa Kỳ) vào những năm 80-85 đã gây bất ổn cho cộng đồng vào thời đó, và vẽ lên một hình ảnh xấu cho người bản xứ.

Hai sự kiện đáng lưu ý là hai lá thư : một của Ông Huỳnh Bá Hải gi DB Loretta Sanchez ngày 6 tháng 1, 2016 và thư ca Ông Nguyn Thanh Tú gi bà Libby Liu, Giám Đốc Đài RFA ngày 21 tháng 1, 2016.

Thưa Ts, cộng đồng có nên yểm trợ hai vị Hải và Tú về các yêu cầu của họ đối với công quyền mà đại diện là bà Loretta Sanchez và Bà Libby Liu? Không thì vì sao, và nếu có thì vì sao?

Ts Nguyễn Đình Thắng:

Dựa trên những dữ kiện được phổ biến, tôi thấy Ông Nguyễn Thanh Tú nêu ra hai vụ việc có thể cùng là những chỉ dấu cho chủ trương của một đảng chính trị là cài cắm hay mua chuộc người để lũng đoạn các định chế Hoa Kỳ. Văn phòng của Bà Dân Biểu Loretta Sanchez trực thuộc Quốc Hội Hoa Kỳ và hoàn toàn do ngân sách của Quốc Hội tài trợ, với những quy định rõ ràng về chức năng và trách nhiệm. Còn RFA là chương trình phát thanh điền thế do Quốc Hội thành lập năm 1994 (Công Luật P.L. 103-236) và được tài trợ bằng ngân sách quốc gia, với sứ mạng pháp định: cung cấp tin tức và thông tin độc lập, không bị kiểm duyệt và chính xác cho người dân ở các quốc gia độc tài ở Á Châu.

Điêu cần lưu ý là một đảng chính trị với mục đích thay đổi chế độ để rồi tham gia chính quyền ở một quốc gia khác phải được xem là một nhân tố “ngoại bang” theo luật pháp Hoa Kỳ, dù có trụ sở đặt ở Hoa Kỳ.

Lũng đoạn một chương trình hay định chế được tài trợ bởi ngân sách liên bang để thủ lợi tự nó đã là một tội hình sự. Nếu có thêm yếu tố “ngoại bang” và khủng bố thì càng nghiêm trọng.

Là công dân Hoa Kỳ chúng ta phải dứt khoát chống lại những việc làm vi luật, lũng đoạn các định chế chính quyền, và có hại cho quốc gia Hoa Kỳ. Nếu có dấu hiệu báo động thì chúng ta phải đòi hỏi cuộc điều tra nhằm bảo đảm rằng tình trạng ấy không xảy ra. Hơn thế nữa, nếu là người quan tâm đến đất nước Việt Nam thì chúng ta muốn rằng chương trình RFA phải phục vụ cho người dân ở Việt Nam chứ không phải cho lợi ích riêng của một cá nhân hay một đảng chính trị nào đó, và chúng ta cũng muốn những người tranh đấu phải được an toàn khi liên lạc với một văn phòng Dân Biểu Hoa Kỳ thay bị nguy hiểm vì có người “nằm vùng” tiết lộ thông tin cá nhân.

Do đó chúng ta cần ủng hộ lời kêu gọi điều tra để rõ thực hư. Điều tra cũng là cách để giải oan cho những thành phần bị cáo buộc nếu như lời cáo buộc không chính xác.

TMV: Hai bà Sanchez và Liu có bắt buộc phải trả lời thư không?

Nguyễn Đình Thắng:

Tôi nghĩ rằng Bà Sanchez bắt buộc phải trả lời và trả lời sớm. Bà ta không có chọn lựa nào khác. Người có thẩm quyền và trách nhiệm điều tra những lời cáo buộc của Ông Tú không ai khác hơn là đối thủ số một của Bà Sanchez trong cuộc tranh cử chức Thương Nghị Sĩ Liên Bang: Bà Kamala Harris, Tổng Trưởng Tư Pháp California. Bị chính đối thủ tranh cử điều tra vì dính líu đến một tổ chức bị tình nghi khủng bố có thể giết chết sự nghiệp chính trị của Bà Sanchez. Vì chỉ còn 4 tháng nữa là đến cuộc tranh cử cấp sơ bộ ở California, Bà Sanchez cần giải quyết sớm vụ việc này để nó không trở thành xì-căng-đan chính trị.

Còn bà Libby Liu, Tổng Giám Độc Đài RFA, thì có thể nhẩn nha hơn nhưng rồi cũng phải trả lời. Đài RFA được đặt dưới sự theo dõi và kiểm soát của hội đồng quản trị có tên là Broadcasting Board of Governors, viết tắt là BBG, do Quốc Hội chỉ định thành lập. BBG không thể không đặt vấn đề nếu có dân biểu hay thượng nghị sĩ Hoa Kỳ lên tiếng. Chẳng hạn, văn thư trả lời Ông Tú của Bà Sanchez có thể sẽ là lời báo động với BBG. Hai vụ việc này ràng chặt với nhau, cho nên Bà Liu không thể tách rời vụ RFA ra khỏi vụ Ông Hải.

TMV: Chúng ta coi thư ô Nguyễn Thanh Tú trước. Ông Tú đã cáo buộc khá nhiều điều cho Đài RFA như sau: 1) Sự hỗ trợ lâu dài của RFA cho một tổ chức bị cáo buộc bởi các phương tiện truyền thông dòng chính và bởi FBI về các hoạt động khủng bố. 2) RFA phỏng vấn một tay đầu lãnh đảng khủng bố mà không phỏng vấn các đảng phái chính trị khác hay gia đình nạn nhân bị sát hại. 3) RFA cắt hợp đồng với nhà báo Lê Diễn Đức vì ông này có những nhận định phê phán đảng Việt Tân.

Xin TS cho nhận xét về những cáo buộc trên của ô Tú?

Nguyễn Đình Thắng:

Rất rõ ràng là RFA có hợp tác chính thức và công khai với đảng chính trị ấy. Đây là điều hoàn toàn không bình thường cho một chương trình phát thanh điền thế được Quốc Hội Hoa Kỳ thành lập và tài trợ bằng ngân sách Liên Bang. Lại càng không bình thường khi đảng chính trị ấy mang tính cách “ngoại bang” và đang bị cáo buộc về hành vi khủng bố. Dù các cáo buộc còn phải được điều tra, sự cẩn trọng tối thiểu đòi hỏi RFA phải tránh xa những điều tiếng sẽ gây tác hại đến uy tín và chức năng do Quốc Hội giao phó.

Khi RFA cắt hợp đồng với cộng tác viên vì đã phê phán tổ chức đối tác với RFA thì tình trạng xung đột lợi ích đương nhiên phải được đặt thành nghi vấn để điều tra. Nếu như người ra lệnh cắt hợp đồng lại cũng là người mai mối cho sự đối tác giữa RFA và đảng chính trị kia thì đấy là một vi phạm hành chính nghiêm trọng. Cũng vậy, khi người ấy quyết định ưu đãi phỏng vấn người của đảng chính trị kia thường xuyên một cách bất thường thì điều này cũng gợi ý là có xung đột lợi ích trong hành xử chức năng. Và nếu người ấy nhận thù lao từ đảng chính trị kia, bất kỳ dưới hình thức nào và dù trực tiếp hay qua các tổ chức trung gian, thì đó có thể là lũng đoạn chương trình liên bang để trục lợi. Đó là vấn đề hình sự.

Dĩ nhiên bị cáo buộc không có nghĩa là có tội. Thực hư ra sao sẽ phải chờ kết quả của cuộc điều tra bởi RFA, bởi BBG hay bởi Quốc Hội Hoa Kỳ.

TMV: Tiếp đó, ô Tú tố cáo sự “giao du mật thiết” giữa Nguyễn văn Khanh, phụ trách phần Việt Ngữ của RFA, với VT và râu ria như VOICE, SBTN, VATV.

Bằng cớ của ô Tú: 1-Nguyễn Văn Khanh và Chủ Tịch RFA Libby Liu đã tham gia Hội Nghị RightsCon ở Manila, Phi Luật Tân với sự cùng hiện diện của nhiều đảng viên Việt Tân. Và ở cùng địa điểm và cùng lúc, VOICE (một tổ chức cận kề với Việt Tân) đã tổ chức buổi hội thảo về tranh chấp Biển Đông. Việt Tân sau đó đã phổ biến các sinh hoạt này để đánh lạc hướng dư luận về những cáo buộc đối với các hành vi khủng bố của Việt Tân. 2-Bà Libby Liu tham gia buổi tường trình tại Quốc Hội do nữ Dân Biểu Loretta Sanchez triệu tập. Bà ngồi cạnh Ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ Tịch Việt Tân. Sau đó RFA khoản đãi bữa ăn trưa tại trụ sở RFA cho phái đoàn Việt Tân và một số diễn giả đến từ Việt Nam.

Thưa Ts, sự kiện vài người trong giới truyền thông, cụ thể bà Libby Liu và ô Nguyễn Văn Khanh ngồi cạnh hay tham gia buổi họp trong đó có VT, có là một bằng chứng để buộc tội rằng họ đã bị Việt Tân “ảnh hưởng”?

Nguyễn Đình Thắng:

Không thể thuần tuý dựa trên những sự kiện ấy để quả quyết là RFA đang bị thao túng. Tuy nhiên chúng là những yếu tố cấu thành nghi vấn. Ông Tú có căn cứ để nghi vấn vì quả thực có sự hợp tác chính thức giữa RFA và đảng chính trị kia, chứ không phải hai bên chỉ tình cờ có mặt trong cùng một sự kiện. Theo nguyên tắc minh bạch hành chính, thì RFA phải điều tra những nghi vấn có căn cứ. Nếu RFA không điều tra hay điều tra không thoả đáng thì BBG có trách nhiệm điều tra để trình lại cho Quốc Hội Hoa Kỳ. Nếu vẫn không hài lòng, Quốc Hội có thể triệu tập BBG ra trước Quốc Hội để trả lời các nghi vấn.

TMV: Ông Tú viết như sau “RFA phải tiến hành điều tra Chương Trình Việt Ngữ của mình xem có hay không những nhân viên là thành viên hay cảm tình viên của Việt Tân, hoặc có hay không việc họ nhận tiền thù lao cho những dịch vụ cung uưng cho Việt Tân, một cách trực tiếp hay gián tiếp. RFA phi thực hiện các trách nhiệm của mình, trong tinh thần không thiên vị và tận tuỵ. RFA không được từ bỏ vai trò trung lập và thay vào đó đóng vai kẹ̉n động và loa phóng thanh cho một đảng chính trị. RFA không có quyền tuỳ tiện xem thường ḷt lệ chỉ vì các luật lệ này không được một cá nhân nào đó trong RFA đồng ý, do ngưoơi ấy có những ý đồ riêng ”.Theo Ts, sự kết án nầy có nặng quá không?

Nguyễn Đình Thắng:

Như đã nói, tôi không nghĩ rằng đấy là kết án mà là đặt nghi vấn để rồi yêu cầu điều tra. Trong trường hợp của RFA thì sự xung đột lợi ích không chỉ đơn giản là trường hợp dân sự hay hành chính mà còn có thể liên can đến luật pháp, ngân sách liên bang và chính sách quốc gia.

TMV: Cộng đồng hải ngoại nên làm gì trước các hành động sử dụng phương tiện truyền thông quốc gia để “ưu ái” cho một đảng phái của ô Nguyễn Văn Khanh?

Nguyễn Đình Thắng:

Trước hết, là người dân đóng thuế thì nếu nghi ngờ là có điều khuất tất trong việc sử dụng ngân sách liên bang, chúng ta có trách nhiệm và thẩm quyền đòi hỏi cuộc điều tra nhằm bảo đảm nguyên tắc minh bạch trong chính quyền và trong xã hội, và bảo đảm tiền thuế của người dân Hoa Kỳ không bị lạm dụng.

Nếu là người ưu tư đến tình trạng nhân quyền ở Việt Nam, chúng ta lại còn phải bảo đảm rằng RFA thực thi đúng sứ mạng do Quốc Hội Hoa Kỳ chỉ định: là phương tiện truyền thông và thông tin cho người dân sống dưới chế độ độc tài đang bị bưng bít thông tin và bị tước đoạt quyền tự do biểu đạt. Chúng ta không thể để cho nó bị sử dụng tuỳ tiện cho những mục đích riêng tư của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào đó.

Tình trạng ấy nếu xảy ra thì sẽ ảnh hưởng tai hại đến hiệu năng của RFA trong việc thi hành sứ mạng pháp định và trong sự phục vụ đồng bào của chúng ta ở Việt Nam.

TMV: chúng ta xét đến lá thư của Ông Huỳnh Bá Hải t Norway. Ông Hải tố cáo Lilly Nguyễn, ph tá ca DB Loretta Sanchez, đã vi phạm bí mật thư tín vào năm 2010 khi ông Hải, từ VN, cần sự trợ giúp của bà Sanchez. Ô Hải cũng tố cáo đích danh Lý Thái Hùng, đảng VT đã gửi mail “chửi rủa” ông ta. Thưa Ts, ông có biêt tường tận sự việc này không, xin chia sẻ?

Nguyễn Đình Thắng:

Tôi biết rõ trường hợp này vì bắt đầu cuối năm 2009, BPSOS cùng với tổ chức Asylum Access phối hợp với nhau để can thiệp và bảo vệ pháp lý cho Ông Hải khi ông ta ở Thái Lan. Tôi xác nhận rằng những điều mà Ông Hải nêu ra trong lá thư gởi Bà Dân Biêu Sanchez là đúng.

Ngày 29 tháng 1, 2010 Ông Hải nói chuyện qua điện thoại với cô nhân viên người Việt của Bà Sanchez để yêu cầu sự can thiệp và bảo vệ, nhưng rồi thông tin này thay vì được trình lên cho Bà Sanchez thì lại bị chuyển cho đảng chính trị mà cô nhân viên ấy là đảng viên.

Ngày 26 tháng 2 năm 2010, ba (3) đảng viên cao cấp của đảng này, 2 người ở Mỹ và một người ở Pháp, đến Thái Lan để chất vấn Ông Hải, cấm ông ta không được liên lạc trực tiếp với Bà Sanchez, và buộc ông ta phải hồi hương. Theo tôi, làm như vậy là đẩy ông ta vào đường tù tội hay bị thủ tiêu. Chúng tôi cùng với tổ chức Asylum Access đã báo động ngay với Cao Uỷ Tị Nạn LHQ để họ sẵn sàng can thiệp nếu có bất kỳ bất trắc nào xảy ra cho Ông Hải.

Trước đó Ông Hải đã từng gặp khó khăn khi có ngươòi trong Chương Trình Việt Ngữ của RFA tiết lộ, dù không được phép, một số thông tin cá nhân của ông ta cho cũng đảng chính trị ấy.

Trường hợp trên đây không là duy nhất. Trong những năm qua chúng tôi đã âm thầm hỗ trợ cho nhiều đảng viên và cảm tình viên của đảng chính trị này khi họ bị tù tội hoặc phải chạy sang Thái Lan tị nạn và bị đảng của họ bỏ rơi. Đối với người ở tù, để tránh liên luỵ cho gia đình của họ, chúng tôi chuyển các khoản trợ cấp qua người trung gian mà không cho biết xuất xứ. Có một số trường hợp sau khi ra tù lại được đảng chính trị ấy móc nối để hoạt động trở lại. Không hiểu vì sao họ đinh ninh rằng đảng ấy là nguồn giúp đỡ khi họ ở tù. Trong những trường hợp đến tai của chúng tôi thì chúng tôi đành tiết lộ xuất xứ của khoản trợ cấp để họ không phải mang tâm lý thọ ơn khi quyết định có tham gia trở lại hay không với đảng chính trị ấy.

Với sứ mạng bảo vệ và cứu giúp đồng bào, đặc biệt những người tranh đấu gặp nạn, các trường hợp lâm tình trạng như của Ông Hải làm chúng tôi lo lắng từ nhiều năm nay.

TMV: chúng tôi thắc mắc, ông Hải, sau đó viết báo tự do. Vì sao ô Hải không nêu sự việc này ngay 2010 hay 2011? Ông đoán thế nào?

Nguyễn Đình Thắng:

Dễ hiểu thôi. Ông Hải ở tận Na Uy, rất khó để lên tiếng với Bà Dân Biểu Sanchez nhất là khi cô nhân viên kia cho đến gần đây vẫn là người “gác cổng”. Nay có cuốn phim “Nỗi Kinh Hoàng ở Little Saigon” đang tạo sự chú ý trong công luận Hoa Kỳ, thì tôi đoán rằng Ông Hải muốn nương vào đó để lên tiếng với hy vọng sẽ có người nghe. Bài phỏng vấn này cho thấy rằng ông ta đã tính đúng.

TMV: Ông Hải viết rằng ông ta sẵn sàng bay qua Mỹ để đối chất, tố cáo Lilly Nguyễn, đảng viên VT. Động cơ của hành động này, “muộn 5 năm”, là gì theo ông?

Nguyễn Đình Thắng:

Tôi không thể trả lời hộ cho người khác. Tuy nhiên, nếu là tôi thì khi cơ hội thuận lợi, dù là trễ 5 năm, tôi cũng sẽ muốn tìm công lý, phanh phui cái xấu, và ngăn ngừa để các người đồng cảnh ngộ khác không lâm nạn như mình.

TMV: Một độc giả của chúng tôi gửi ý kiến vầy: “..nhiều người quốc gia hiện nay biết SBTN là của Trúc Hồ dính líu VT nhưng họ không thể cắt đứt. Tại sao?”. Ông có thể trả lời dùm?

Nguyễn Đình Thắng:

Việc nhìn nhận sự thật đòi hỏi lương tâm. Đã biết sự thật rồi, dám hành động theo lương tâm đòi hỏi bản lãnh. Không phải ai cũng có cả lương tâm lẫn bản lãnh. Điều này chúng ta thấy rõ nơi những người Cộng Sản. Có những người đến giờ này vẫn bám chặt lấy một chủ thuyết đã phá sản và tiếp tục phục vụ một chế độ rõ ràng là hại dân hại nước. Tôi nghĩ rằng sự lấn cấn tâm lý ấy không chỉ xảy ra trong hàng ngũ Đảng Cộng Sản. Một số người Việt ở hải ngoại cũng có thể bị lấn cấn như vậy.

TMV:Một độc giả khác bày tỏ sự e ngại, SBTN sẽ trở thành một thứ như take2tango trước kia. Nghĩa là cộng đồng vô tình trao gươm độc quyền cho SBTN, thông qua các đại diện SBTN (họ là người quốc gia). Để chống lại, theo ông, cộng đồng phải làm gì?

Nguyễn Đình Thắng:

Ở xã hội mở và đa nguyên của thế giới tự do, không ai hoặc tổ chức nào có thể độc quyền vì luôn luôn có sự cạnh tranh và thay thế. Hiện nay ở nhiều thành phố đã có những chương trình truyền hình Việt ngữ 24/24 miễn phí đang cạnh tranh nhau gay gắt. Và đối với giới trẻ ngày càng đông và càng hội nhập vào giòng chính thì các phương tiện truyền thông Anh ngữ và mạng xã hội là các yếu tố thay thế cho các chương trình truyền hình và truyền thanh Việt ngữ. Sự cạnh tranh và thay thế là đặc tính của xã hội mở mà không ai cưỡng lại được.

TMV: Ông còn điều gì chia sẻ trước khi tạm biệt?

Nguyễn Đình Thắng:

Tôi xin cảm ơn Báo Thương Mại Miền Đông đã phỏng vấn. Các vấn đề được nêu ra giúp cho người Việt chúng ta hiểu rõ thêm cách vận hành của một xã hội dân chủ pháp quyền. Hễ có dấu hiệu của sự vi phạm tính minh bạch hành chính, lũng đoạn luật pháp, và lạm dụng chức quyền thì chúng ta có trách nhiệm lên tiếng và hành động để ngăn lại. Khi gìn giữ nền dân chủ pháp quyền ở Hoa Kỳ và trong thế giới tự do nói chung, chúng ta không chỉ bảo vệ môi trường lành mạnh cho chính chúng ta và các thế hệ con cháu của chúng ta, mà còn giới thiệu với đồng bào trong nước một mẫu mực để họ hướng đến khi thay đổi đất nước.

TMV: Xin cảm ơn Ts Nguyễn Đình Thắng

Tun báo Thương Mi Min Đông Vriginia thc hin

Tháng 2-2016

Advertisements

Thư của ông Huỳnh Bá Hải

Tôi tên Hùynh Bá Hải, sinh năm 1972 hiện đang sống tại thành phố Lillehammer, Norway. Tôi là một nhà báo tự do viết cho trang blog Dân Làm Báo.
Hôm nay tôi viết thư cho bà để giải trình cho bà biết về một việc xảy ra cho tôi vào năm 2010 có liên quan đến cô trợ lý của bà tên là Lilly Nguyễn và cả chính bà

Vào tháng 1.2010 tôi là một phóng viên chạy qua Bangkok xin tỵ nạn. Qua thông tin trên trang báo take2tango. Tôi được biết số phone của cô Lilly Nguyễn nói rằng muốn liên lạc với bà thì liên hệ với cô Lilly Nguyễn theo số điện thoại :001- 202-306-1440. Tôi từ Bangkok gọi cho cô Lilly Nguyễn.
Cô Lilly Nguyễn nói rằng muốn liên lạc với bà việc gì thì email cho cô ta theo địa chỉ email : lilly.nguyen@mail.house.gov . Cô ta đọc email cho tôi qua điện thoại.
Sau đó tôi nhờ cô ta chuyển cho bà một bức thư nhờ can thiệp vì lúc còn là phóng viên ở Việt Nam tôi cũng đã giúp Tòa đại sứ Hoa Kỳ nhiều việc. Vì tôi nghĩ rằng bà là một dân biểu ở Hoa Kỳ nên tôi cần nhờ bà can thiệp. Trong email này có nhiều bí mật cá nhân của tôi, các phóng viên ở Việt Nam và cả Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon, Việt Nam.
Không biết bà có nhận cái thư của tôi hay không. Nhưng ngay lập tức các lãnh đạo của Việt Tân là ông Lý Thái Hùng đã email chửi rủa tôi rất nhiều, chính ông Hùng cũng đe dọa tôi
Sau này tôi biết cô Lilly Nguyễn là đảng viên của Việt Tân thì chắc chắn cô ta chính là người đã đưa cái thư cá nhân của tôi gởi riêng cho bà để đưa cho ông Lý Thái Hùng
Hiện nay tôi vẫn còn lưu giữ cái email gốc mà tôi chuyển cho cô Lilly Nguyễn nhờ chuyển thư của tôi cho bà vào tháng 1.2010
Thưa bà, như vậy cô Lilly Nguyễn đã vi phạm bí mật thư tín cũng như lạm quyền là nhân viên trợ lý cho bà nhưng cô ta không làm đúng chức vụ là chuyển thư cho bà mà làm lộ thư tín của bà. Nếu lúc đó Việt Tân mà thủ tiêu tôi thì đó là tội ác của cô Lilly Nguyễn
Tôi sẵn sàng đến USA để tố cáo hành vi tội ác của cô Lilly Nguyễn
Xin chúc bà sức khỏe và may mắn
Trân trọng
Huỳnh Bá Hải
Lillehammer 06.01.2016

Thư gửi bà Loretta L. Sanchez, dân biểu Hoa Kỳ

February 5th, 2016

The Honorable Loretta L. Sánchez

C/O: Chief of Staff –

Jennifer Alvarez Warburton

Room: 1211 Longworth House Office Building

Washington, DC 20515

Thưa Bà Dân Biểu Sanchez:

Tôi viết thư này để xác nhận việc trao đổi đang diễn ra bằng email và điện thoại giữa tôi với văn phòng của Bà. Quả vậy, văn phòng của Bà cho tôi biết là một nhân viên của Bà, Ông Carlos Urquiza, sẽ gọi điện thoại cho tôi nội trong ngày hôm nay.

Tôi đã nêu vấn đề Luật RICO với Bà vào tuần trước. Đạo Luật Racketeer Influenced and Corrupt Organizations Act (Luật về các Tổ Chức Gian Lận, Lũng Đoạn và Hủ Hoá), được gọi tắt là Luật RICO (18 U.S.C. ch. 96 as 18 U.S.C. §§ 1961–1968) là luật Liên Bang cho phép sự trừng phạt nới rộng về hình sự và việc kiện dân sự đối với những hành vi liên quan đến một tổ chức tội phạm.

Bà có cho tôi biết rằng bà biết về RICO, tuy nhiên tôi không chắc rằng bà hiểu rõ những nguyên tắc căn bản trong luật RICO áp dụng như thế nào vào trường hợp mà tôi nói đến hoặc mức độ trầm trọng của nó. Ngoài các cuộc điều tra đang tiếp diễn của ProPublica và Uỷ Ban Bảo Vệ Ký Giả CPJ về cái chết của người cha của tôi, cố ký giả Đạm Phong, và cái chết của 4 đồng nghiệp của Ông, việc Bà hành động hay không hành động sẽ có tác động đến cách áp dụng luật RICO.

Sự liên hệ mật thiết và ủng hộ lâu năm của Bà đối với đảng Việt Tân, một tổ chức đang bị cáo buộc bởi truyền thông giòng chính, một số cựu đầu lãnh của họ và cơ quan FBI là nhúng tay vào các hành vi khủng bố, cho phép họ dùng đó làm công cụ tuyên truyền rằng các hoạt động khủng bố của họ là chính đáng, trong cách nhìn của cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại và người dân Việt Nam ở trong nước, do nhờ họ có quen biết rộng trong guồng máy chính trị Hoa Kỳ. Khi cuộc vận động tranh cử của Bà tiếp tục nhận tiền đóng góp của các đầu lãnh và đảng viên Việt Tân, thì điều này đang gởi ra thông điệp rằng Bà dung túng và ủng hộ các hành vi tội phạm của Việt Tân. Việc này sẽ làm nản lòng những ai có thể làm nhân chứng để bước ra làm nhân chứng vì họ hiểu sai lầm rằng Việt Tân đang được bảo vệ bởi chính quyền Hoa Kỳ và do đó được hưởng sự miễn truy tố.

Nói trắng ra, thái độ và hành động của Bà vô hình chung góp phần vào một âm mưu gian lận và lạm dụng công quỹ Liên Bang, lũng đoạn chính sách quốc gia, và hủ hoá một văn phòng Quốc Hội để thực hiện những hành động mang tính cách tai hại, vi phạm nhân quyền và phản lại các giá trị của Hoa Kỳ.

Thêm vào đó, khi Bà điều tra các lời cáo buộc đã được nêu ra trong hai bức thư trước đây của tôi thì Bà cũng nên xem xét quan hệ hợp tác giấu giếm nhưng thắm thiết giữa đài truyền hình SBTN và Việt Tân. Theo những nguồn tin đáng tin cậy, có khả năng là người của Việt Tân có hùn vốn trong SBTN, và có ít ra hai đảng viên kỳ cựu đang làm việc trong SBTN, chưa kể khoảng 18 đảng viên hay cảm tình viên của Việt Tân đang hợp tác với SBTN trong những chức năng khác nhau. Hai đảng viên kỳ cựu của Việt Tân đang làm việc ở SBTN là Cô Trinity Hồng Thuận Phạm và Ông Steven Mai Hữu Bảo.

Được sử dụng miễn phí làn sóng truyền hình có thể được xem là nhận sự đóng góp trực tiếp hay gián tiếp cho quỹ tranh cử. Như vậy, Bà nên rà soát lại tất cả những cuộc phỏng vấn với SBTN trong những kỳ tranh cử trước đây và hiện nay. Vô cùng quan trọng cho sự chân chính của nền chính trị và hệ thống bầu cử Hoa Kỳ là Bà không để bị ngộ nhận rằng đang chịu ảnh hưởng, một cách thầm kín hay lộ liễu, bởi một tổ chức đang bị tình nghi bởi nhiều người và bị công khai cáo buộc là đã từng hoạt động khủng bố ngay trên đất nước Hoa Kỳ. Điều này không khác gì với trường hợp tỉ như Vito Corleone hoặc các gia đình trong giòng họ Corleone (Bố Già) có phần hùn trong các đài truyền hình ABC, NBC, CBS và Fox.

Và cuối dùng, dưới đây là bản dịch Anh ngữ lá thư của Ông Huỳnh Bá Hải, mà tôi đã chuyển bản gốc tiếng Việt cho Bà.

Tôi mong đón nhận các kết quả điều tra của Bà.

Kính thư,

Nguyễn Thanh Tú,

Con trai của một người cầm bút bị giết

trong việc theo đuổi chân lý và công lý

khai dân trí, chấn dân khí, phục dân chí, hậu dân sinh

Thử nhìn lại non một thế kỷ nguyện vọng “khai dân trí, chấn dân khí, phục dân chí, hậu dân sinh”

của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh

Ngày mai 24/3 là ngày giỗ cụ Phan Chu Trinh; đây là lần giỗ thứ 85, tức đã gần một thế kỷ. Khi còn sống nhà chí sĩ danh giá họ Phan vẫn luôn tâm niệm một điều quan trọng để cứu nước và phát triển đất nước: “Khai dân trí, chấn dân khí, phục dân chí, hậu dân sinh”. Bởi nước ta trước đây 85 năm còn dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp. Theo ông, nguyên do sự mất nước ngay từ đầu là do dân trí ta kém, đất nước lạc hậu, do vậy không đủ thực chất để ngăn được làn sóng xâm lăng của thực dân, và cuối cùng bị Pháp đô hộ. Bởi vậy theo Phan Chu Trinh, yêu cầu đầu tiên là phải khai dân trí, nhân dân mới đủ nhận thức và sức mạnh ý thức và tinh thần để đứng lên giành lại độc lập. Người Pháp lúc ấy là một đất nước hùng mạnh về lực lượng quân sự, có một nền tri thức và khoa học cao hơn nước ta rất nhiều, lấy sức mạnh thô sơ của dáo mác, để đứng ra chọi lại với súng sắt tàu đồng, một điều có mặt bất khả thi, do vậy Phan Chu Trinh chủ trương trước hết phải có phong trào duy tân và khai mở dân trí.

Đây là một quan niệm rất thực tế và đúng đắn, bởi vì lúc ấy toàn thể dân tộc đang ở dưới ách thống trị của thực dân. Chúng có vũ khí, lực lượng quân sự áp đảo, trong khi nhân dân ta chỉ tay không. Không thể cứ mù quáng dùng trứng chọi đá, luôn luôn chỉ là điều bất lợi và khó đạt kết quả, đó là quan điểm hoàn toàn cụ thể, khách quan, hợp lý, chính xác của Phạn Chu Trinh. Ông chủ trương phong trào cắt tóc ngắn, canh tân các hủ tục lạc hậu, nâng cao sự hiểu biết của người dân lên mọi mặt, kể cả kết hợp với phong trào Đông du để cho người đi du học, đồng thời cổ vũ mọi mục đích học tập, giáo dục, làm sao cho mọi sự hiểu biết của nhân dân tăng lên, kể cả việc ông đi diễn thuyết để cổ vũ, động viên, đó là ý nghĩa khai dân trí mà Phan Chu Trinh chủ trương thực hành mạnh mẽ.

Khai dân trí như vậy cũng kết hợp với chấn dân khí. Bởi dân trí có cao thì dân khí mới cao. Nước ta sau bao nhiêu năm nô lệ, tinh thần dân tộc phần nào đã bị phong tỏa, xé lẻ, bị làm cho cùn nhụt và yếu ớt đi. Tất nhiên trong suốt thời gian đó, vẫn có nhiều cuộc bạo động cách mạng xảy ra, nhưng cuối cùng vẫn bị dập tắt. Bởi lực lượng chỉ nhỏ bé so với thực lực quân sự của chính quyền thực dân, họ Phan thấy rằng đấu tranh đổ máu như vậy là không kết quả, không thể nào thắng được nổi giặc, cho nên ông chủ trương duy tân nhằm nâng cao dân trí, từ đó chấn chỉnh dân khí là hoàn toàn hữu lý, phù hợp. Nhiều người vì nóng lòng khôi phục đất nước, chủ trương bạo loạn, dùng vũ khí để lật đổ ách đô hộ của thực đân, nhưng như vậy chỉ hao tốn xương máu vô ích mà khó đạt được mục đích trọn vẹn. Cho nên việc họ chỉ trích Phan Chu Trinh, cho rằng ông chủ trương đề huề, không chống Pháp bằng bạo lực là nhu nhược, là thỏa hiệp, là mềm yếu, tiêu cực, đó là cái nhìn nông nổi, nóng vội, cạn hẹp, không phù hợp với cách nhìn bao quát, thực tế, sâu sắc hơn của Phan Chu Trinh.

Bởi vì con người muốn đấu tranh phải có sự hiểu biết, có ý thức và ý chí vững mạnh, có lòng quả cảm và tri thức, đó là dân trí và dân khí. Phương diện người lãnh đạo, lực lượng lãnh đạo, chỉ huy, đầu tàu, và khối quần chúng vận động hưởng ứng, kết hợp theo cũng vậy. Có nghĩa phải có khí giới, đạn dược tân tiến, có khả năng chế tạo ra chúng, có khả năng phát huy hiệu lực và sử dụng chúng, có thực lực kinh tế để có thể mua sắm chúng, có cơ sở vật chất để làm ra chúng, có ý thức chính trị tốt để phối hợp hiệu quả được với chúng, đó không phải chỉ thuần túy quân sự hay vũ khí thô sơ, mà còn phải có thực lực chính trị, thực lực kinh tế, thực lực khí tài chiến đấu như trên đã nói. Dân khí như vậy cũng kết hợp được cùng với dân chí. Tức ý muốn, mục đích giành lại độc lập tự do cho đất nước, có mục đích xã hội rộng lớn, không phải chỉ biết sinh sống làm ăn kiểu tư lợi, cá nhân tầm thường trong vòng kiềm tỏa hay dưới ách thống trị của kẻ địch đô hộ. Dân trí, dân khí, dân chí có, tức có một cách hùng hậu, có qua lực lượng đa số, số đông của toàn đân, của mọi người trong nước, không phải chỉ lác đác nơi vài cá nhân hoặc các nhóm lẻ tẻ hay thành phần thiểu số nào cả, đó là tầm nhìn bao quát, rộng lớn, đầy đủ của Phan Chu Trinh.

Tất nhiên mộng lớn chưa xong, mục đích chưa đạt thành công và kết quả, thì nhà cách mạng, nhà chí sĩ vĩ đại rất đáng kính đó đã qua đời. Ách thực dân vẫn còn, dân sinh độc lập, tự cường, hạnh phúc chưa thực hiện được. Giang sơn chưa thu về một mối, dân tộc chưa hoàn toàn đứng lên. Nhưng đó không phải do lỗi hay do trách nhiệm về chính sách đấu tranh của Phan Châu Trinh, mà chỉ là lịch sử chưa chín muồi, chưa xoay chuyển được thời cơ, vì thế lực thực dân vẫn còn mạnh, cơ hội bên ngoài chưa đến, cơ hội bên trong chưa có, toàn dân chưa đủ sức mạnh, lực lượng để tự đứng lên được. Điều này kéo dài mãi cho đến khi quân Nhật tràn vào tước khí giới của quân Pháp, bởi vì quân Nhật lúc đó có đủ lực lượng và sức mạnh để làm được điều đó, là khống chế được lực lượng quân sự và chính quyền cai trị của thực dân Pháp. Nhật làm được vì Nhật đã biết duy tân ngay từ đầu. Đến khi đó nước Nhật đã là một cường quốc mạnh mẽ nhiều phương diện, mà nước ta thì do duy tân chậm ngay từ đầu, nên lúc đó hoàn toàn chưa có. Và sau khi quân Nhật hất cẳng quân Pháp, lực lượng Đồng minh lại đổ bộ vào, thế chiến thứ hai chấm dứt, bàn cờ thế giới đã được sắp lại theo một thế khác. Điều này bất kỳ ai có đọc sử, nghiên cứu lịch sử trong giai đoạn đó nói chung trên quốc tế và nói riêng trong các hoàn cảnh đặc thù, cụ thể của nước ta, cũng hoàn toàn thấy rõ.

Lúc đó trên thế giới đã bắt đầu xuất hiện hai phe đối kháng, là lực lương quốc / cộng bắt đầu phát triển trên toàn thế giới, hay cụ thể ở châu Âu cũng như châu Á, kết hợp cùng với việc phục hồi chế độ thực dân / giải phóng dân tộc cũng là hai lực lượng đối kháng, xảy ra cùng lúc ở một số nước. Rõ ràng ở đây đã có tới bốn phe phái hay bốn lực lượng thù địch xuất hiện song song, điều này ở thời kỳ của Phan Chu Trinh hoàn toàn chưa có. Đó là một sự thật lịch sử khách quan, cả trên thế giới lúc đó và cụ thể ở ba nước Đông dương, trong đó có đất nước VN ta. Chỉ những người nào do mù quáng vì lẽ này hay lẽ khác mới không nhận thức được, do trình độ nhận thức chính trị xã hội, lịch sử kém mới chối cãi hay phản đối ngược ngạo được. Thế nên, sau khi đất nước có được nền độc lập mỏng manh ban đầu, tiếp đến là cuộc chiến tranh ý thức hệ, xen lẫn cuộc can thiệp của hai phe nước ngoài, trong đó phần nào cũng là lý do để có một bộ phận nhất định của chế độ thực dân cũ quay lại. Ý nghĩa thật sự và diễn tiến khách quan của lịch sử nói khái quát nhất vốn là như thế. Còn việc chép sử, giảng dạy lịch sử, lý giải lịch sử cụ thể, khách quan đó thế nào lại là chuyện khác. Tất nhiên những quan niệm nhất thời, những xu hướng bẻ cong lịch sử nhất thời đều vẫn không thể tồn tại lâu bền, chỉ mang ý nghĩa thuyết phục đối với những người không biết, cạn hẹp, thiên kiến trước mắt, và cuối cùng trong dài hạn của lịch sử dân tộc nói chung, về sau này mọi sự thật khách quan đều sẽ được sáng tỏ ra, được chỉnh lý lại trong sử sách, được mang giá trị chân chính lại với mọi người, và đó chính là ý nghĩa diễn tiến sau cùng cũng như bao quát nhất mà thật sự lịch sử nói chung phải có (1).

Chính vì thế mà vấn đề đáng nói nhất ở đây, trong thời hiện tại vẫn là các ý nghĩa của những khía cạnh dân trí, dân khí, dân chí, dân sinh mà cách đây gần cả trăm năm nhà chí sĩ, nhà cách mạng họ Phan đã từng hoài bão và tranh đấu. Dân trí ấy, trong thời đại ngày nay cao hay thấp, nói về mặt quảng đại dân chúng, mọi người chắc đã biết. Trong tính cách giáo dục, phần lớn chỉ luôn theo một chiều, đó cũng là ý nghĩa nói chung của dân trí ấy. Đó là chưa nói đến có nhiều khía cạnh tiêu cực, lạc hậu trong giáo dục. Còn dân khí thì thế nào, qua mỗi thời kỳ và giai đoạn, nhà nước nói sao, cả giới trí thức và nhân dân đều nghe theo như vậy, hô phải thì tất cả đều la lên là phải, hô trái thì tất cả đều la lên là trái, hô bao cấp, tất cả đều phục tùng tuyệt đối bao cấp, hô đổi mới, hội nhập, thì mọi người cũng đều cùng lớn tiếng hô lên rập ràng như thế, đó chính là dân khí. Còn dân chí, vấn đề chủ trương ‘lãnh hải kiểu lưỡi bò’ và lấn chiếm các hải đảo lớn, quan trọng nhất của đất nước ta, do Trung quốc đưa ra và thực hiện, toàn dân chỉ thấy phản kháng thụ động, tránh né, hoặc vụ bâu xít tây nguyên, đó là dân chí. Cuối cùng, dân sinh thì nhiều mặt trong thực tế hết sức bức xúc, từ kinh tế đến đời sống với nhiều khía cạnh khá bức xúc mà báo chí đã luôn luôn nói đến rất nhiều. Đó cũng chính là lý do để mọi người cần nên nhìn lại sau quá trình non một thế kỷ của lịch sử, hay cụ thể là 85 năm sau khi nhà chí sĩ yêu nước, sáng suốt họ Phan đã mất. Cho nên, nói đến tinh thần Phan Chu Trinh, thật sự không thể chỉ nói suông ngoài miệng như nhiều người vẫn làm, mà mỗi người, bất kỳ ai, vị trí và trường hợp thế nào, đều cần nên cố gắng làm điều gì đó cụ thể, tích cực trong khả năng điều kiện của mình để thể hiện được chính ý thức, hoài bão đó của họ Phan, cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh lịch sử đất nước ra sao, để khỏi phụ lòng và hoài bão cao quý, đáng kính nhất, của người xưa.

(23/3/2011)

© Võ Hưng Thanh

NHÂN ĐỌC LÁ THƯ CỦA ÔNG PHAN NHẬT NAM

* NHÂN ĐỌC LÁ THƯ CỦA ÔNG PHAN NHẬT NAM

**** Sự kiện : Lá thư của ông Phan Nhật Nam gởi KHG Dương Nguyệt Ánh

**** Suy tư về những điều ông viết trong thư.

Trước hết người viết xin lổi quý đàn anh trong quân đội,quý vị cao niên và nhà văn Phan Nhật Nam. ( người viết là một sĩ quan cấp nhỏ nhất trong quân đội VNCH cũng đã từng đi tù hơn 10 năm) . Sở dỉ người viết có đôi lời về lá thư của nhà văn PNN gởi khoa học gia DNA vì theo nhận định của người viết “lá thư này có liên quan đến công cuộc chống cộng “ . Từ nhận định đó được xin phép để viết lên ý nghĩ của mình . Nếu bất cứ ai có lập luận phản lại những điểm của người viết cứ tự nhiên nêu ra để người viết học hỏi. Những ai phản đối với lời lẻ thiếu tự trọng thì người viết không trả lời lại. Sự thẳn thắn trong tương kính là tốt đẹp nhất.

I. Mở đầu :

Nhìn một loạt email trong hôp thư,tin tức hằng ngày,những bài viết chống cộng và đủ mọi mặt như xã hội,chính trị,kinh tế,tài chánh,thời sự,tin tức sinh hoạt cộng đồng… và chuyện của mình ,của thiên hạ. Trong mớ email ngày thứ 3 (27 tháng 01 năm 2015) ,một email làm người viết chú ý đó là email của ông thiếu úy nhảy dù gởi cho khoa học gia Dương Nguyệt Ánh (DNA) . Chú ý vì tên tuổi của bà DNA,bà là một trong những người làm vẻ vang cho dân Việt tỵ nạn,bà cũng là người được coi là có một lập trường rỏ ràng,dứt khoát trong lằn ranh Quốc Gia và Cộng Sản . Đọc xong email người viết hơi sửng sốt một chút,nếu là email này của một ai đó không tên tuổi trên làng net thì chẳng có gì để sửng sốt,nhưng nó là của nhà văn đã từng nổi tiếng trước 1975 ông Phan Nhật Nam(PNN) .

Bỏ qua chuyện vụ kiện cáo của báo Người Việt và Sài Gòn Nhỏ,bỏ qua vì hơn tháng nay đủ loại bài viết tung lên net,với đủ mọi lý luận và ngay cả nói nặng lời cũng như nói xàm,nói càng,nói bừa ,nói cho đở tức vì không có lý luận để gọi là phản biện lại những bài viết không cùng”chí hướng” với mình. Chuyện lập trường chính trị của hai tờ báo thì cả thế giới (người Việt) cũng đã rỏ nói đúng hơn “đã rỏ từ lâu” ,nhưng rỏ nhất là từ khi mấy cái ông xảo trá,ranh mảnh cầm đầu một cái hồn ma Mác-Lê ở trong nước tung ra hãi ngoại cái gọi là nghị quyết 36. Có nghị quyết này giúp cho người Việt tỵ nạn phân biệt rỏ hơn,nghị quyết 36 này cũng để thử lòng các chiến hữu v.v và v.v Nên người viết chẳng cần viết lại,quá đủ hay nói cho đúng là quá thừa.

II.Lá thư của ông Phan Nhật Nam :

Điểm thứ nhất: Danh xưng

Ông PN viết với danh xưng “ thiếu uý nhảy dù…”.làm người viết phân vân,có phải nhà văn PNN của”mùa hè đỏ lữa” không? Nhớ là PNN của mùa hè dỏ lữa đi khóa 18 Đà Lạt sao lại thiếu uý mặc dù tại ngũ đến 1975? Nhưng sau đó đọc một vài phản ứng trên diễn đàn thì “thiếu úy PNN dù này là “mùa hè đỏ lữa” . Trong danh xưng như vậy làm người viết có vài suy nghĩa) Sao ông không xưng với cấp bậc sau cùng như mọi người bình thường khác ( trường hợp nếu xưng là Cựu sinh viên sĩ quan Võ Bị/ Thủ Đức lại là khác ) ? PNN khiêm nhường chăng? Nếu Khiêm nhường thì đừng xưng gì cả , ghi Phan Nhật Nam là đủ và, nếu muốn làm sáng tỏ hơn thì ghi thêm “ mùa hè đỏ lữa” ,như vậy hay biết mấy. Ông không chọn xưng hô cách bình thường . Nếu đến ngày 30/4/75 ông vẫn ở binh chủng dù với cấp bậc đại uý thì chắc ông xưng là “đại úy dù” chứ không xưng “thiếu úy dù” như đã xưng trong thư. Khó hiểi thật. Xưng như vậy vì với con mắt của ông binh chủng dù là binh chủng sáng giá,đáng được tôn trọng,còn những binh chủng khác như bộ binh,địa phương quân.Biệt động quân.. thì chẳng xứng để ông nói tới dù là ông đã ở trong những binh chủng đó. ( theo bài viết của HLC thì trong bài “với một người lính viết văn Phan Nhật Nam” ông PNN vào Võ Bị Đà Lạt, Khoá 18 (Đúng ra đã vào Sài Gòn khám bệnh để đi khóa 17 (1960). Nhưng do lý lịch của cha mẹ nên trường Đà Lạt không nhận). Đến Khóa 18, an ninh quân đội xét lại hồ sơ mới cho nhập học (23/11/1961). Ra trường ngày 23/11/1963. Lúc ấy, tại miền Nam, lịch sử chỉ vừa mới lật trang Đệ Nhị Cộng Hoà chưa được bao lâu. Đơn vị lần lượt là Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù Biên Hoà; TĐ 9 (1965), TĐ 2 (1968) Sàigòn; Lữ Đoàn 2 (1968) Long Bình, Thủ Đức. Bị lột lon vì tội đánh lộn năm 1970. Từ nhảy dù chuyển về Quân Đoàn III Biên Hòa; Tiểu Khu Phước Tuy, TK Long An (1970), Biệt Động Quân (1972), Ban Liên Hợp Quân Sự 4; 2 Bên từ 28/1/1973 cho đến ngày 29 /4/1975. . Trong danh xưng đó đủ để biết về ông.dù là chuyện nhỏ nhưng cũng đánh giá được phần nào (tôi nghĩ ông thích oai,thích hùng,thích nổi…) Ông xem thiếu uý dù oai phong hơn đại úy nhiệm chức trong ban liên hợp quân sự 4 bên ( đại úy nhiệm chức theo ông Trần Bá Trạc viết)

III. Nội dung thư :Trong nội dung lá thư người viết chú ý đến những điểm sau:

Điểm thứ nhất : Ông PNN là người can đảm nói cho đúng nghĩa nhất là người “hùng”. Ông can đảm và hùng vì ông là người đứng ra khai pháo “bắn” vào khg Dương Nguyệt Ánh ( xin các vị theo pháo của ông PNN đừng hiểu theo nghĩa đen chữ “bắn” rồi đi kiện người viết thì tội lắm). Ông “hùng” vì có một số người rất ấm ức,ấm ức vì muốn binh vực cho báo Người Việt ,muốn tấn công SGN nhưng,lại không dám vì mấy cái ông ,bà “đứng về phía SGN đông quá và dữ dằn quá ,họ có một lập trường vững vàng đồng thời những lập luận của họ khá vững ,lơ tơ mơ “lò” ra sẽ bị bề hội đồng ,hay hơn là nín thở chờ xem “có vị cứu tinh” nào “hy sanh” mở đường trước không? May đâu có ông PNN. Thế là nhất rồi còn gì nữa ,thiếu úy nhảy dù nhà văn quân đội đã nổi danh thì kiếm ai cho bằng, vì thế nhảy ra đánh tới tấp,đánh chẳng cần theo thế vỏ nào cả,đánh loạn xà ngầu ,người viết xin copy vài thế võ trên làn nét tấn công khg DNA để quý vị thưởng lạm “.Kêu gọi, vận động đồng hương đóng góp quỹ “pháp lý”. Thực chất là chống lại Pháp Lý của Hoa Kỳ. Đồng thời, bà Hoàng Dược Thảo đã và đang cố tình phá nát sự đoàn kết của Cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản ở những nơi vốn đã rạn nứt, khó khăn.” của vỏ sinh Lê Trần .

Quái Thai DNA xử quan tòa , như thế nử DƯƠNG không còn là 1 công dân Mỹ nữa ,

vì không biết tôn trọng quyền độc lập của Tư Pháp , vi phạm luật hình về ” Nhục mạ

Thẩm Phán “

mà chỉ còn là 1 sản phẩm cặn bã của VNCH .

Là cặn bã của VNCH , vì ngay ở VNCH cũng đã được thi hành nhiều lần Tội Hình

” Nhục Mạ Thẩm Phán ”

Hiu hiu tự đắc đi làm MC nhiều lần cho ASIA , 1 thứ văn nghệ chống CS , mà văn

nghệ đi vào chính trị thì chỉ còn là tuyên truyền và quảng cáo . của vỏ sinh BS DVA

Điểm thứ hai : “Thân tình”

Đem cả những người thân tình ( khg DNA là chổ thân tình với PNN,theo trong thư ) để lót đường cho con đường mình đi : Chính điểm này là điểm nổi bật nhất trong là thư của ông gởi khg DNA. Đây là điều người viết muốn đề cập tới.

Trước hết người viết xin được phép cắt nghĩa hai chữ “thân tình” cho rỏ thì mới có thể viết chính xác . Nếu là danh từ:quan hệ mật thiết,đằm thắm . Nếu là tính từ : Tình cảm mật thiết,chân thành. . Theo định nghĩa đó thì ông PNN và khg DNA cũng như cả gia đình họ Dương có sự giao hảo tốt đẹp,thân thiết … Một sự liên hệ như vậy có ai ước ao hơn . Ở đời mỗi chúng ta có được mấy người thân tình,xả giao,qua lại thì nhiều nhưng thân thì khó lắm (bạn thì nhiều nhưng bạn thân thì chỉ có 1,2 người). Khi đã nói thân tình có nghĩa là đã hiểu nhau,đã cảm phục nhau …từ đó có thể hy sinh cho nhau,bạn thân tình có rớt xuống hố cũng tìm cách cứu,bạn thân tình có bị người ta đánh đến chết khi có mặt mình ở đó thì ít nhất cũng bị thương,chứ còn lành lặng chạy về nhà báo cho người thân của bạn mình ,họ hỏi “ sao vậy con,em … lúc người ta đánh nó chết con ở đâu?” Thì ăn nói làm sao quý vị? Theo người viết đó là một tên hèn,hèn vì đi với bạn thân ,bạn mình bị đánh thì mình bỏ chạy .. Trong trường hợp ông PNN và khg DNA đáng lý ra ông viết riêng cho bà DNA để khuyên bảo (với tư cách thân tình),hoặc gọi điện thoại ( không lẽ thân tình mà không có số điện thoại của nhau) . Đàng này ông lại đối xử một cách “chẳng thân tình” chút nào bằng cách tung thư lên net ,khi làm như vậy chắc chắn ông PNN biết sẽ có người hùa vào đánh khg DNA,mà ông cứ gởi . Thân tình chổ nào đây? Xét hành động đó người viết đưa ra hai cái lý để giải sự khó hiểu này.

*** Thân tình thật : Thì trên đời này tìm người như ông PNN cũng hơi khó. Viết đến đây người viết nhớ lại chuyện Trường Chinh vì lý tưởng Cộng Sản đem cha mẹ mình ra đấu tố ( chắc chỉ xảy ra ở xứ cộng sản) , chuyện thứ hai cũng cộng sản nữa là chuyện Hồ Chí Minh bán Nguyễn Thái Học cho pháp ( cùng thời diểm hai người đều chống Pháp) ( người viết không có ý nói xéo ,nói xiêng hay chụp cho PNN là cộng sản) . Có một điều chắc chắn rằng sau thư ông PNN gởi cho khg DNA ,ông sẽ mất những người ông kể của dòng họ Dương , một số “thân tình” khác hoặc những ai muốn kết “thân tình” với ông PNN họ phải xét lại. Nếu là người viết nghe danh ông PNN và có ý tìm cách lân la để thân tình , chắc chắn là nên “forget” ý tưởng đó đi , vì quá sợ không dám thân tình “ kính nhi viễn chi” cho chắc ăn.

*** Thân tình giả ( không thân tình mà nói thân tình) : Thấy khg DNA có danh thơm nên cũng muốn thơm lây “nổ” chơi cho đời bớt khổ vậy mà. . Thấy sang bắt quàng ,người viết xin báí phục . . Trong chuyện “nổ” như vậy cũng có mục đích bịp thiên hạ chơi ,mà thật cũng có kẻ tin nên nói Lời anh khuyên KHG Dương Nguyệt Ánh là lời chí tình của một người có giao tình với bạn bè. Không muốn đốt cháy KHG/DNA , còn bọn chúng đáng muốn đốt cháy DNA đó. Đừng buồn anh PHN ơi! Cố lên, còn có hàng triệu người ủng hộ anh…..” ( trích email một người đồng tình với ông PNN)

Người viết có đọc bài viết của ông Nguyễn Bá Trạc nói về ông PNN ,người viết rất cảm thông về những gì xảy đến với ông PNN . Ông cũng là người phẩn nộ trước những bất công ,vô lý Nhất là đoạnNhưng cả thế giới này đã khai thác và lạm dụng nhu cầu cần được thương yêu của Nam. Nam đã pha trò, Nam đã quý bạn, Nam đã chiến đấu, Nam đã viết, Nam đã làm nhiều thứ đáng để được thế giới hiểu biết và thương yêu. Nhưng thế giới quanh Nam đã không tử tế như thế. Người ta đã bắt Nam cho thì nhiều mà đáp ứng lại thì ít công bằng, xứng đáng và đầy đủ” (trích bài viết của ông Nguyễn Bá Trạc)

Một người bạn của ông là ông Nguyễn Bá Trạc đã viết nhiều điều tốt về ông (không cần để ý đến ông Trạc viết đúng hay sai),nói cách khác bạn của ông PNN binh vực cho ông khi ông bị nạn. Người viết rất tôn quý những người như vậy. Bây giờ thì sao ? Một PNN khác hẳn không quý tình bạn như ông Nguyễn Bá Trạc đã viết nên với có lá thư gởi cho khg DNA được tung lên net . Ông PNN không binh cho bà DNA (chổ thân tình) như ông Nguyễn Bá Trạc binh cho ông Nam. Người viết không hiểu ông PNN nghĩ như thế nào nếu như trong thời gian ông gặp nạn,ông Nguyễn Bá Trạc hoặc những người bạn khác của ông chơi “tình lờ” chứ đừng nói gì đánh hùa? . Phải chăng tuổi tác làm thay đổi hoàn toàn tính khí của con người chăng?

Điểm thứ 3:Về vấn đề ông PNN nói trong thư “- Nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả, hệ quả vụ kiện kia hoàn toàn KHÔNG LIÊN QUAN ĐẾN MỤC ĐÍCH/YÊU CẦU CỦA CUỘC ĐẤU TRANH CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM CHỐNG CỘNG TỪ 1954 ĐẾN NAY.” (copy từ thư ông PNN).

Khi nói đến hậu quả thì phải nói đến nguyên nhân,chúng ta thử sơ qua tìm nguyên nhân nào mà báo Người Việt kiện báo Sài Gòn Nhỏ ?

1/ Nguyên nhân gần : Bài báo của bà HDT viết về báo NV ngày 28 tháng 7 năm 2012 như làng net đều biết

2/ Nguyên nhân xa : Nói cách khác là nguyên nhân nào mà bà HDT viết bài báo ngày. 28 tháng 7 năm 2012 Cả thế giới người Việt đều biết báo Người Việt (NV) đã đã nhiều lần có những hành động xỉ nhục VNCH (không cần nhắc lại ở đây) ,130 hội đoàn đã ký thư phản đối báo NV( thông báo số 1 thông báo số 3 có 151 đăng ngày 24 tháng 8 năm 2012),báo SGN là tờ báo duy nhất đăng thư này ,từ đó đã kích động tinh thần bà HDT để viết lên những gì bà biết được về tờ báo này ,bài của bà nhằm làm cho rỏ hành động của báo NV đã làm trong thời gian qua .

IV. Đặt một vài câu hỏi.

** Hành động viết thư phản đối của 151 hội đoàn Quốc gia có liên quan đến mục đích/yêu cầu của cuộc đấu tranh của toàn thể người Việt Nam chống cộng từ 1954 đến nay hay không ? ( nhường phần trả lời cho ông Phan Nhật Nam )

** Báo Sài Gòn Nhỏ đăng thư phản đối báoNV của 151 hội đoàn có liên quan đến mục đích/yêu cầu của cuộc đấu tranh của toàn thể người Việt Nam chống cộng từ 1954 đến nay hay không ? ( nhường phần trả lời cho ông PNN).

Nếu như ông PNN trả lời hai câu hỏi trên là “không” thì người viết không còn lời nào để nói về ông PNN . Nếu ông PNN trả lời “có” thì tất cả những những gì ông viết cho bà DNA trở nên vô giá trị..

Tưởng cũng nên nhắc lại cái liên quan và không liên quan đến chống Cộng Sản. Trước 1975 .Các ông Lữ Phương , Nguyễn Văn Trung…. đã thành lập tổ chức “cải thiện lao tù” ở Sài Gòn (thực chất tổ chức này là của Mặt trận giải phóng miền nam) hay tên Huỳnh Tấn Mẫm cầm đầu sinh viên….. Lúc đó chắc mọi người nghĩ như ông Phan Nhật Nam “ không liên quan đến mục đích/yêu cầu chống cộng” và,nhiều cái “ không liên quan “ nữa đã đóng góp sự sụp đổ của VNCH. Chống Cộng không có nghĩa tên nào có đeo thẻ đảng,vổ ngực xưng tên là cộng sản mình mới chống , phải chống những râu ria của bọn chúng,chống bọn râu ria mới khó,tại hải ngoại không ít râu ria này( truyền thông,báo chí,tổ chức chính trị,thân hữu, cá nhân mà người Việt tỵ nạn đã từng vạch mặt). Không có những râu ria đó bọn Việt Cộng chẳng làm được gì ở hải ngoại.

V.Kết luận:

1/ Tờ Sài Gòn Nhỏ của bà HDT cũng có nhiều người chê bai,trong quá khứ cũng có một số bài viết mang tiếng trong dư luận,rất khó có ai tránh khỏi ,bà HDT cũng không ra khỏi ngoại lệ đó.Đi tìm cái tuyệt đối trong cái tương đối chỉ có người ngu mới đi tìm như vậy .Dù sao đi nữa khi bà HDT lậm nạn cũng có người đứng ra binh vực,dám gây quỷ pháp lý ,viết thư ủng hộ v.v và v.v Không hiểu nếu tờ Người Việt lâm nạn có ai dám đứng ra binh vực hay không?

2/ Sông cũng có khúc ,người cũng có lúc ,nhiều nghịch cảnh đến với chính mình trong cuộc sống cũng như những may mắn đến với mình… Nghịch cảnh hay may mắn cũng có thể biến đổi hoàn toàn quan điểm,lập trường,nhân sinh quan… Ví dụ có những kẻ ở trong trại tập trung của VC 14,15 năm rất xứng đáng là người Quốc Gia nhưng,ra hải ngoại vì bơ sửa biến mình thành tồi tệ. Có những người khi còn chiến tranh rất oai hùng hét ra lửa,lập nhiều chiến công nhưng khi vào tù bần tiện không thể tưởng. Một tên Ngọc lập (TQLC) một tên Phương Hùng (BĐQ),một Cao Kỳ(KQ) còn rất nhiều nữa. Thấy mớ đời mà

Ghi chú:Chữ mục đích/yêu cầu là của ông PNN viết trong thư,riêng người viết không muố dùng danh từ này

http://www.Biamieng.com

Trò chơi chữ trong chính trị

TRÒ CHƠI CHỮ TRONG CHÍNH TRỊ

Trong văn chương Việt-Nam và thế giới có không biết bao nhiêu giai thoại về trò chơi chữ ( jeu des mots). Nhưng chơi chữ trong văn chương thì chỉ là nếu không phải là một nghệ thuật đáng chiêm ngưõng thì cũng chỉ là một trò vui đùa không hại gì mấy. Nhưng khi trò chơi chữ được các nhà chính trị xử dụng thì thật vô cùng nguy hiểm. Kể sơ ra đây vài thí dụ về trò chơi chữ đã được đảng Cộng-Sản Việt-Nam xài trong lịch sử. Chỉ một vài thí dụ thôi trong vô số.

* Những ngày đầu thành lập, Đảng CS lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt-Nam, nhưng khi thấy danh từ Cộng-Sàn lộ nguyên hình quá không thể dụ được quần chúng nhẹ dạ, và dể gây dị ứng trong thành phần trí thức, chúng bèn đổi tên thành Đảng Lao Động Việt-Nam , Cho mãi đến sau 1975 mới hoàn thân Cộng Sản. Quả nhiên lúc đó nhiều người yêu nước đã vì lầm chúng không phải là Cộng Sản nên đã tham gia vào hàng ngũ của chúng, chỉ với một lòng muốn dành độc lập cho tổ quốc Việt-Nam.

* Năm 1945 khi phát dộng toàn quốc kháng chiến, vì muốn vơ vét vàng trong dân chúng nên CS bèn phát động Tuần Lể Vàng để quyên góp. Nhưng quyên ở đâu đây ? Không lẽ đi quyên vàng ở giai cấp vô sản ? ( có gì mà quyên ?) Còn bọn địa chủ thì CS đã lở kết án là bọn bóc lột rồi. CS bèn nghĩ ra cách là dùng nhóm chữ “Địa Chủ Tiến Bộ” để gán cho những nhà địa chủ hiến vàng. Ai mà không muốn biến thành kẽ tiến bộ. Vậy là toàn quốc lầm, trong đó có cha mẹ của Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh. Hơn mười năm sau khi phát động phong trào Cải Cách Ruộng Dất, cần phải đem bọn điạ chủ ra giết thì CS mới suy nghĩ. Không lẽ đem giết những người tiến bộ. Thôi thì chi cho bằng bìến đổi một vài chữ cho xuôi tai. Thế là, từ “Địa Chủ Tiến Bộ” trở thành bọn “Địa Chủ Cơ Hội” Hầu hết các gia đình địa chủ đều bị đấu tố và bị giết, trong đó cũng có cha mẹ của Đặng Xuân Khu.

* Trong cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam. Đầu tiên CS dùng nhóm chữ “ Gia Đình Phản Động” để chỉ những gia đình có thân nhân cọng tác với chính quyền VNCH. Sau đó, chúng thấy có phản ứng trong hàng ngũ cán binh, vì chính gia đình bọn họ cũng biến thành “Gia Đình Phản Động”. CS lại phải nghiên cứu và đổi thành “ Gia Đình Đau Khổ”. Cán binh Cộng-Sản miền Nam thấy được an ủi nhiều.

* Sau khi chiếm miền Nam, đới với thành phần Quân Cán Chính VNCH. Làm thế nào để gom hết lại nhốt hết một lần mà không mất công lùng bắt, gây hoãn loạn . Lại chơi chữ: “ Trình diện học tập tùy theo cấp bậc.” Kêu thì ba ngày tại địa phương, người thì “Mang theo lương thực mười ngày hay một Tháng” Thế là toàn quốc lầm một lần nữa. CS đâu có nói là mười ngày hay một tháng sẽ cho về đâu! Thật là trò chơi chữ tinh vi.

* Từ 1975-1985 đối với những người VN vượt biên tìm tự do. Chúng gọi là bọn “ Phản Quốc” Đến sau năm 1985, thấy có thể “ Kiếm Chút Cháo” được từ những bọn “Phản Quốc” nầy (Té ra là Cơm Trắng và Bơ Sửa” ) chúng bèn đổi thành “ Khúc Ruột Ngàn Dặm” hay “ Việt Kiều Yêu Nước”.

* Năm 1968, Kissinger là cố vấn của Tổng Thống Nixon, là người chuyên xử dụng phương thức “Ngoại Giao Đi Đêm” Kissinger nhờ một vài người Pháp làm trung gian để nói chuyện với CSVN. Đầu tiên với Tòa Đại Sứ Việt-Cộng tại Pháp. Có một cuộc nói chuyện giữa các người trung gian và Mai văn Bộ là Đại Sứ CS tại Pháp lúc bấy giờ. Khi phía Mỹ đề nghị là họ sẽ “ Ngưng Oanh Tạc Vô Điều Kiện “ miền Bắc nói lại CS hứa sau khi Mỹ ngưng oanh tạc thì sẽ ngồi vào bàn hội nghị với một vài nhân nhượng. Đối với phía Mỹ, đây là cuôc “Ngưng Oanh Tạc Vô Điều Kiện” vì “Điều Kiên” không hề bị bắt buộc phải có trước khi ngưng oanh tạc đúng theo luật Bang Giao Quốc Tế và Chiến Tranh. Thế nhưng, bị ám ảnh bởi trò chơi chừ chình trị , nên Mai văn Bộ đã trả lời với người Pháp rằng : Không có khác biệt giữa Blanc Chapaeux và Chapaeux Blanc. Tỉnh từ đứng trước đứng sau như nhau, đìều kiển đi trước đi sau cũng như nhau. Những người Pháp nhìn nhau không hiểu gì cả.

Một vài thí dụ về trò chơi chữ chính trị mà CS đã xử dụng để lừa bịp dân chúng, và đôi khi còn bịp được cả thế giới. Thế nhưng, đa số dân chúng vẫn chưa thấy được sự nguy hiểm của nó và vẫn còn vô cùng nhẹ dạ. Có thấy sự khác biệt đôi chút trong cách dùng chữ thì cũng nghỉ là “ VIỆC NHỎ” không đáng quan tâm.

Sau khi nghị quyết 36 ra đời. Cách đây đã lâu, Đảng Việt-Tân đã đổi Ngày 30 tháng Tư thành ngày “Tự Do Cho Việt-Nam”thay vì Ngày Quốc Hận. May sao lúc ấy các tổ chức chính trị và Cộng Đồng đã thấy được âm mưu trong trò chơi chữ chính trị nầy nên đã phản ứng quyết liệt. Nếu không có sự phản ứng của Cộng-Đồng thì đây là một thắng lợi vô cùng to lớn của CS về mặt tuyên truyền và lừa bịp thế hệ trẽ VN ở hải ngoại .

Thế mà nhiều người trong chúng ta vẫn xem đó như là “ VIỆC NHỎ”. Muốn biết có phải là việc nhỏ hay không, chúng ta hảy xét xem những người muốn đổi tên ngày Quốc Hận đã vô tình hay hữu ý khi thay đổi nhóm chữ Ngày Quốc Hận bằng nhóm chữ “Ngày Tự do cho Việt Nam….” hay các tên khác.

Khi nói đến vô tình, thông thường người ta nói đến một hành vi thụ động, không để ý, có thể vì thói quen hay thiếu quan sát. Khi tôi nói một câu sai văn phạm, có thể anh vô tình không để ý, nên không sữa. Một khi anh sữa tức là anh cố ý. Một người dân Việt-Nam vì nhiều năm sống với CS nên có thể vô tình vì thói quen nói “ sau ngày giải phóng”, nhưng khi anh sửa lại là sau ngày mất nước thì anh đã có ý tứ và lập trường hẳn hoi.. Cũng tương tự như vậy, Chúng ta đã dùng chữ Ngày Quốc Hận để chỉ ngày 30 tháng T 40 năm rồi. Chữ ngày Quốc hận không những là chữ đúng nhất được công nhận mà đã biến thành thói quen của chúng ta rồi. Vậy những người muốn đổi thay có ý hay không. Một trăm phần trăm là có ý. Vậy thì Ý Gì Đây?

Đọc đến đây, Chắc có người lại tự hỏi, cũng là câu hỏi bắt đầu bằng hai chữ không lẽ.

Không lẽ những nhân vật trong chính trường Mỹ ,Canada ,các ông TNS gốc Việt lại có ý xấu với người Việt tỵ nạn (họ đã từng vinh danh cờ vàng kia mà), và đảng Việt-Tân lại có ý như vậy sao? Và không lẽ….không lẽ…. Biết bao nhiêu là không lẽ….

May thay, nhóm chữ “ Ngày Tự Do Cho Viêt-Nam” và những tên khác đã không có dịp trở thành chính thức nhờ vào phản ứng của Cộng Đồng, không còn lạ gì nữa với Trò Chơi Chữ Chính Trị và luôn đề cao cảnh giác.

Và cũng đáng buồn thay, những người vạch trần những trò chơi chữ nầy đôi khi bị một vài người xem là quá khích, biến “VIỆC NHỎ” thành quan trọng. Xin thưa riêng với những người nầy. Từ Đảng Cộng-Sản biến thành Đảng Lao Động, Từ Địa Chủ Tiến Bộ thành Địa Chủ Cơ Hội, Từ Mút Mùa Lệ Thủy đến Lương Thực Mười Ngày …… đều là những “VIỆC NHỎ” đó quý vị ạ, nhưng hậu quả thật khó lường. ./.

HKA (www.biamieng.com)

NHÂN MỘT VỤ KIỆN GIƯA BÁO NGUỜI VIỆT VÀ SÀI GÒN NHỎ

NHÂN MỘT VỤ KIỆN GIƯA BÁO NGUỜI VIỆT VÀ SÀI GÒN NHỎ

I.Mở đầu .

Trong cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng ta đã xảy ra rất nhiều vụ kiện cáo . Cá nhân kiện cá nhân, một tổ chức kiện một tổ chức,tổ chức kiện cá nhân vv và v.v . Có một điều đáng chú ý là đa số các vụ kiện cáo xoay quanh trong vấn đề mạ lỵ,phỉ báng…. mà sự mạ lỵ ,phỉ báng nằm trong tiêu đề “Quốc Gia và Cộng Sản” . Bên nguyên đơn lúc nào cũng nói mình là một “nạn nhân” . Ở tiểu bang Washington cũng đã xảy ra mà bên nguyên đơn là một tổ chức cộng đồng,bên bị đơn là một uỷ ban chống cờ VC. Vụ kiện này cũng đi đến trình trạng kháng án. Ở texas cũng đã xảy một vụ kiện giửa cá nhân và cá nhân và còn nhiều nơi nữa nhưng vụ kiện vừa mới xảy ra ở nam California giửa hai hệ thống báo Người Việt và SàiGòn nhỏ. Đây là một vụ kiện đáng chú ý . Bên bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn một số tiền khá lớn trên 4 triệu đồng. Chúng ta thử tìm hiểu về vụ kiện này ,trước hết người viết xin phép quý độc giả được giới thiệu khái quát về người viết

a/ Người viết không quen biết bà HDT cũng như báo Người Việt

b/ Trong sinh hoạt cộng đồng người Việt tỵ nạn người viết đã theo dỏi những hoạt động của hai hệ thống báo Dsài Gòn Nhỏ và Người Việt.

C/ Người viết là một HO

d/ Có mõt lập trường của người Quốc Gia chân chính.

II. Một vài nét về tội danh phỉ bán,mạ lị.

  1. Trước khi tìm hiểu vụ kiện người viết xin được phép nói sơ qua một ít luật lệ trong thuật ngữ về các tội liên quan đến vụ kiện ( xin lưu ý đây chỉ là một kiến thức tổng quát chứ không phải là một sưu tầm chuyên môn hay người viết là một luật gia…) Như vậy tính chính xác cũng bị giới hạn phần nào,nhưng cũng hy vọng giúp được một ít cho quý độc giả muốn tìm hiểu vấn đề’

–          Defamation, Slander và Libel : Dây là ba thuật ngử đồng nghĩa với nhau để chỉ về một phát biểu làm thương tổn đến danh dự của một đệ tam nhân và gây hậu quả làm cho đệ tam nhân bị phiền phức, mất công ăn việc làm, tổn thất tài chánh trong công việc làm ăn, hay bị quần chúng khinh bỉ. Phát biểu có thể bằng mọi cách như viết, in, nói, hình ảnh v.v. Khác nhau ở chổ, Defamation là nói chung cho mọi phát biểu, Libel chỉ về những phát biểu trên các bài viết và hình ảnh, và Slander chỉ về các phát biểu bằng miệng.

–          Public figure : Là những người nắm giủ các chức vụ trong cộng đồng, hay những người có tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng mà quần chúng dể dàng nhận biết một cách rộng rải. (định nghĩa về public figure vô cùng đa đạng và rộng rải ngày nay ví dụ như một thầy giáo dạy học trong một trường học cũng là một public figure vì hành vi của họ có ảnh hưởng đến học sinh và phụ huynh trong cộng đồng)  một người có thể trở thành một public figure bất đắc dĩ ( involuntary public figure) mặc dầu họ không có ý định thu hút sự chú ý của quần chúng. Joe the Plumber là một thí dụ, Ông ta chì là một người thợ ống nước bình thường, vì tình cờ hỏi ứng cử viên Obama một câu mà trở thành nổi tiếng trên toàn quốc và trở thành một involuntary public figure. –          Actual Malice: Ác ý hiển nhiên, một người vu khống người khác có ác ý hiển nhiên là người biết sự việc mình phát biểu là dối trá mà vẫn phát biểu không cần kiểm chứng hư thật. Yếu tố Actual malice là một yếu tố vô cùng quan trọng trong các vụ kiện về defamation & Slander mà nguyên đơn là một public figure. Vì nói một cách tổng quát, một public figure không thể nào kiện một người khác về tội defamation nếu không chứng minh được yếu tố Actual malice mặc dầu các yếu tố khác đã được chứng minh đầy đủ.( án lệ New York Time Co. v. Sullivan 1964). –          Facts v. Opinion : Facts là những sự kiện còn opinion chỉ là những ý kiến. Thông thường người phát biểu ý kiến của cá nhân mình liên quan đến một cá nhân nào đó dầu là nhận xét xấu về họ không phải là defamation mà phải trình bày như là một sự kiện thì mới chịu trách nhiệm. Thí dụ : Tôi đã gặp Ông A. ba lần trong một tuần tại sòng bài ( Facts) theo ý tôi ông ta là một người ghiền bài bạc (opinion). Phát biểu như vậy tôi không hề có trách nhiệm nào cả mặc dầu thật tình ý kiến của tôi hoàn toàn sai vì ông A không nghiện cờ bạc. Nhưng nếu tôi chỉ nói trống không rằng Ông A là một tay nghiện bài bạc thì tôi đã biến ý kiến cá nhân mình thành một sự kiện có thật và Ông A có thể kiện tôi. Cũng vậy, nếu tôi không hề gặp Ông A ba lần trong một tuần nào đó thì rỏ ràng là tôi vu khống và phải chịu trách nhiệm.. Đa số các vụ kiện tương tự xảy ra trong cộng đồng Việt-Nam với nhau đều liên quan đến các public figures, thứ nhất vì cộng đồng chúng ta có quá nhiều public figures ( Việt-Nam ham nổi tiếng) thứ nhì vì trên thực tế ít ai đụng chạm đến những nhân vật vô danh. Vì vậy, để đơn giản vấn đề, tạm coi như nguyên đơn là một  public figure, bị đơn là bất kỳ một cá nhân nào đó. Để thắng kiên một cá nhân nào đó về tội defamation & Slander, một public figure phài chứng minh được ít nhất bốn điều sau đây trước tòa: 1/ Bị đơn đã phát biểu một sự kiện có tính cách mạ ly đối với mình. 2/ Sự kiện phát biểu hoàn toàn sai sự thật. 3/ Mình đã bị tổn hại ( về vật chất hoặc tinh thần) vì sự phát biểu trên. Và quan trọng nhất là điểm sau đây. 4/ Bị đơn đã có Actual Malice khi phát biểu. ( Nếu không chứng minh được yếu tố Actual malice, Public figure sẽ không được bồi thường dựa theo án lệ New York Time Co. V. Sullivan 1964 nêu trên dầu cho ba yếu tố trên đã được chứng minh thành công.) Để chống lại một vụ kiện về defamation & Slander bị đơn có các cách phản bác như sau: 1/ Những điều tôi đưa ra là sự thật. Sự thật là một vủ khí hửu hiệu nhất để biện hộ cho tội danh defamatiom ( Truth is the perfect defense against defamation) 2/ Tôi đã phát biểu dưới dạng ý kiến cá nhân chứ không phải trình bày những sự kiện. 3/ Tôi đã ngay tình, không biết đó là những sự kiện giả dối, và đã có cố gắng kiểm chứng sự thật. ( Luận cứ nầy để đánh đổ yếu tố Actual Malice của nguyên đơn đưa ra.) Như vậy, chúng ta dể dàng thấy một public figure đi kiện một người khác về tội defamation rất khó thành công vì phải có trách nhiệm chứng minh nhiều điều, nhất là yếu tố Actual Malice rất khó chứng minh.

III. Người Việt vs Sài Gòn Nhỏ Trở lại vụ kiện của báo Người Việt (NV) và báo Sài Gòn Nhỏ(SGN) . Trước hết chúng ta lấy nguyên văn bài viết của bà Đào Nương để xem thử báo NV lấy yếu tố nào để đi kiện và thắng kiện?? 1/ (Trích)Hy vọng ông Phan Huy Đạt, chủ nhân của báo Người Việt sẽ công bố tên của 27 người này để bọn “tay sai cuả giặc Mỹ” đa nghi cứ cho rằng một ông giáo nghèo, một counselor của một trường đại học cộng đồng thì làm gì có tiền mà mua nổi nguyên một tờ báo to đùng như tờ Người Việt? Bọn “tay sai của giặc Mỹ” cho rằng nếu không phải “thằng” Sơn Hào thì cũng là “thằng “Hải Vị”, Made in VC mua tờ Người Việt rồi ông đứng tên dùm cho chúng. Đào Nương tôi không tin nhưng không biết làm sao để bênh ông. Chi bằng ông cứ đưa 27 con ma “tay dài” này ra trình làng là bọn “tay sai của giặc Mỹ” tin rằng đây là những người mang căn cước tị nạn cộng sản như “bọn họ”? Nhưng trong “27 active members” của ‘quỉ” nhân viên báo Người Việt này có tên ông Chihuahua thì “member” đau đớn nhất lại là trùm xò Hoàng Ngọc Tuệ.(ngưng trích )

2/ (trích)Nhưng sự kiện vợ của ông Hoàng Ngọc Tuệ, bà Hoàng Vĩnh ra mặt điều hành báo Người Việt mấy năm nay mới là lạ. Điều lạ thứ nhất: bà Hoàng Vĩnh không phải là một người có khả năng học vấn hay báo chí. Bà lại là một người có nhiều tai tiếng về tình ái. Điều lạ thứ hai: Là một người rất khôn ngoan, Hoàng Ngọc Tuệ ngu gì mà đưa vợ vào nơi thị phi để mà mang nhục? (ngưng trích).

Hai đoạn văn trên của bà Hoàng Dược Thảo(HDT) viết mà báo người Việt dùng đó để kiện . Như chúng tôi đã đưa ra một vài sự hiểu biết về những thuật ngữ liện quan đến vụ kiện . Trong phần trích 1 những gì bà HDT viết là những sự kiện(facts)mà sự kiện đó có thật . Trong giấy tờ người đứng chủ tờ báo Người Việt là ông Phan Huy Đạt nhưng trên mỗi tờ báo đều có công bố một ban biên tập và ban điều hành,một hội đồng quản trị . Sự kiện này hoàn toàn đúng,từ sự kiện (facts) này bà HDT có quyền phát biểu ý kiến( opinion) của của cá nhân bà ,hay nói cách khác là bà (bất cứ ai) cũng có quyền suy tư về sự kiện đó.Khi tìm hiểu về sự điều hành của báo Người Việt ,có sự tréo cẳng ngổng thì bà có quyền nêu những thắc mắc Hy vọng ông Phan Huy Đạt, chủ nhân của báo Người Việt sẽ công bố tên của 27 người này để bọn “tay sai cuả giặc Mỹ” đa nghi cứ cho rằng một ông giáo nghèo, một counselor của một trường đại học cộng đồng thì làm gì có tiền mà mua nổi nguyên một tờ báo to đùng như tờ Người Việt? Bọn “tay sai của giặc Mỹ” cho rằng nếu không phải “thằng” Sơn Hào thì cũng là “thằng “Hải Vị”, Made in VC mua tờ Người Việt rồi ông đứng tên dùm cho chúng. Đào Nương tôi không tin nhưng không biết làm sao để bênh ông. Chi bằng ông cứ đưa 27 con ma “tay dài” này ra trình làng là bọn “tay sai của giặc Mỹ” tin rằng đây là những người mang căn cước tị nạn cộng sản như “bọn họ”? Nhưng trong “27 active members” của ‘quỉ” nhân viên báo Người Việt này có tên ông Chihuahua thì “member” đau đớn nhất lại là trùm xò Hoàng Ngọc Tuệ.” Trong phần chữ in đậm sau cậu bà HDT có đặt dấu hỏi (?) và nguyên phần sau bà không kết luận hay nói cách khác là bà HDT không biến ý kiến (opinion) của mình thành sự kiện (facts).

Trong phần trích thứ 2 bà có nói đến bà Hoàng Vĩnh có tai tiếng về tình ái ,không gì cụ thể cả,điều này nếu tòa hỏi thì có hàng trăm cách để chứng minh (trừ phi bà Hoàng Vĩnh “chính chuyên một chồng” . Chúng ta cũng cần để ý là theo luật những vụ kiện như thế này ,phía nguyên đơn phải chứng minh được sự thiệt hại về vật chất . Nếu đúng là bị đơn đã phỉ báng,mạ lị.( ví dụ như trước đây tôi thu vô hàng tháng $50,000.00 sau bài báo đó tôi chỉ thu $15,00.00)và tinh thần ( tôi mất ngủ hay bị bệnh thần kinh …sau bài báo đó) . Thật khó chứng minh sự thiệt hại (vì có thiệt hại đâu mà chứng minh } ngược lại báo Người Việt vẫn làm ăn khấm khá.. Đó là lý luận dựa theo một số luật định,còn thực tế thì bà HDT đã phải đền bù hơn 4 triệu về tội phỉ báng,vu cáo… mà như báo người Việt đã đăng “bà Hoàng Dược Thảo, bút hiệu Ðào Nương, viết rằng Cộng Sản Việt Nam đã mua nhật báo Người Việt và để cho ông Phan Huy Ðạt đứng tên chủ nhân. Cũng trong bài viết ấy, bà loan tin đồn thất thiệt về đời tư của bà Hoàng Vĩnh. (ngưng trích Hà Giang). Những điều mà báo NV kiện bà HDT không tìm thấy bất cứ ở bài viết nào của bà HDT. Thế mà kiện được và đã thắng. Khó tin nhất là ở xứ Mỹ nhưng đó là thật . “Thật khó hiểu” như bà /cô Hoàng Ngọc An nói . Khó hiểu hơn nữa khi ông chánh án nói khi bắt đầu phiên tòa (theo bài tường thuật của luật sư bị đơn “Ngay khi bắt đầu phiên tòa, ông chánh án đã nói rằng ông không quen thuộc với luật về phỉ báng, và điều này trở nên rõ ràng trong những quyết định của ông trước và trong phiên xử”. (“The trial can only be described as surreal. At the commencement of the action, the judge stated that he was not familiar with defamation law, and that became very apparent during pre-trial motions and trial”, Aaron Morris said)và chính đây là điều mà người Việt Quốc Gia nên suy nghĩ.

Có nhiều người cho rằng hệ thống tòa án của Mỹ hoàn chỉnh nhất trên thế giới,riêng người viết không tin như vậy ,trong lịch sử xử án biết bao nhiêu lầm lẫn ,nhất là các tòa sơ thẩm địa phương ,các tóa địa phương này khi xử án có mời những công dân có lý lịch tốt( không phạm tội ) đến gọi là bồi thẩm đoàn(jury) ,những người này có quyền quyết định mức án về hình sự cũng như dân sự. Nên nhớ rằng bồi thẩm đoàn chỉ là những công dân , chưa chắc tất cả đều biết về luật lệ,một công dân không tìm hiểu luật pháp thì khó biết được chút nào trong cái “rừng luật” của Mỹ . Nếu về vụ án giết người hay trộm cắp những điều đó rỏ ràng , riêng về các tội mạ lị,phỉ báng thì thật là khó hiểu được ,có thể hiểu một cách tai hại giửa sự kiện và ý kiến,một ví dụ để làm cho rỏ hơn . Ông A đưa tấm hình của ông Đỗ Ngọc Yến chụp chung với đại sứ VC và Nguyễn Tấn Dũng,ông A nói đây là bằng chứng ông Đỗ N Yến làm ăn hay tay sai … để thi hành nghị quyết 36 của VC .Lời phát biểu của ông A hoàn tòan sai có tính cách vu cáo { lời xác định rỏ ràng}, câu nói này sẽ bị kết tội nếu ông Yến kiện,ra trước tòa ông A không có bằng chứng gì cả cho lời phát biểu của mình ,chỉ có tấm hình chụp chung không thể xác định được công việc của ông Yến ( mặc dù đa số người trong cộng đồng chúng ta cũng có ý nghĩ như ông A) . Nhưng cũng sự kiện đó (tấm hình) nếu ông A phát biểu “ Nhìn tấm hình chụp chung của ông Yến và những tên VC,khiến cho tôi(ông A) có những suy tư “ Chuyện gì đã xảy ra cho cộng đồng chúng ta đây? Nghị quyết 36 rất nguy hiễm ? Một liên hệ mật thiết nào giửa ông Yến và những tên VC có trong hình?…?” Lời phát biểu này là sự suy tư của ông A Ông không xác định nhưng ông có quyền nhìn một sự kiện có thật đề nói lên suy tư của mình ( nên nhớ là sự kiện phải có thật). Và, còn nhiều lẫn lộn khác nữa khiến cho bồi thẩm đoàn kết tội không chính xác . Đó là chưa nói đến vấn đề tâm lý của từng cá nhân trong bồi thẩm đoàn ,ví dụ một người trong cuộc sống họ thích nói xấu người này người nọ,thích dựng chuyện ( họ không bị coi là xấu về pháp ly ) những người như vậy thường mạnh miệng kết tội người khác để chứng tỏ ta là người đạo đức ,ghét xấu xa… Người viết không cảm thấy thoải mai về bồi thẩm đoàn. Nếu người viết không nhớ lầm thì thời VNCH khi xử án ở tòa sơ thẩm có một chánh thẩm và ba phụ thẩm..Tòa Thượng thẩm có ba thẩm phán ngồi xử án .Tối cao,pháp viện thì có chín thẩm phán. Những người này chắc chắn là luật lệ rất rành vì nghề của họ ( đặt vấn đề hối lộ ra ngoài). Trở lại tòa an1 ở Mỹ vì có nhiều thiếu sót nên có vấn đề chống án lên tòa cấp trên,tòa cấp trên (không có bồi thẩm đoàn} Vụ kiện vừa xảy ra chúng ta nghe được những lời phát biểu của một số bồi thẩm đoàn ,đọc kỷ những lời phát biếu đó người viết có ý kiến như sau: Những cuộn video mà báo NV đưa ra về những cảnh la ó của bà HDT ,những video này không chứng minh được là bà HDT phỉ báng,mạ lị,vu cáo cho báo người Việt,nó hổ trợ một phần nào ,có ý sự việc bà HDT viết bài bái ngày 28 tháng 7 năm 2012 đã được lặp lại(hành động trong video) như vậy bị đơn có ác ý,.hơn nữa là một thủ thuật khôn lanh của nhóm luật sư nguyên đơn , những lời la ó tẩy chay báo NV không có gì là vi phạm .Điều này cũng thường xảy ra ngay cả trong chính trường của Mỹ. Theo người viết những đoạn video đó có tính cách kích động (dụng ý của nguyên đơn) bồi thẩm đoàm,những bồi thẩm đoàn hình như để ý sơ qua những lời phát biểu của bà HDT ,họ chú ý đến thái độ của bà ,dĩ nhiên khi tranh đấu không ai nói nhỏ nhẹ cả,phát biểu nơi đám đông chắc chắn phải lớn tiếng,quyết liệt .Các bồi thẩm đòan qua những đoạn video trình chiếu , họ đánh giá qua cảm tính là bà HDT là một con cọp còn báo người việt là một con cừu rất dể thương Còn một điều nữa bồi thẩm đoàn không hiểu được một chút nào về sinh hoạt chính trị trong cộng đồng người Việt tỵ nạn,cho nên có người nói là do cạnh tranh nghề nghiệp ông Hoyt Hart, luật sư đại diện Người Việt, nói: “Trong lập luận kết thúc phiên xử, tôi hỏi bồi thẩm đoàn liệu họ có chấp nhận việc sử dụng tin bịa đặt và phao tin đồn thất thiệt làm phương pháp cạnh tranh không. Và trong phán quyết ngày hôm nay, bồi thẩm đoàn cho thấy họ không chấp nhận hành vi ấy.” Về phán quyết, chủ tọa bồi thẩm đoàn, một luật sư không muốn nêu tên (1), cho biết ý kiến riêng của ông: Cách hành xử của bà Hoàng Dược Thảo đối với yêu cầu đính chính của nhật báo Người Việt khiến ông quyết định kết tội bên bị. Ông nói: “Sau khi nhận thư yêu cầu đính chính, bị cáo không những đã không đính chính, không kiểm chứng kỹ hơn về những điều mình đã viết, mà còn đăng lại những câu phỉ báng ban đầu, rồi nêu đủ lập luận để biến những câu mà bà gọi là đặt câu hỏi trong bài viết nguyên thủy thành kết luận, đẩy sự phỉ báng đến mức độ trầm trọng hơn.”

Một bồi thẩm viên khác, bà Liz Diep (2)nói về quyết định cá nhân của bà trong phán quyết đối với Saigon Nhỏ: “Tôi quyết định khá dễ dàng, vì các quyết định đã thành hình trong ý nghĩ tôi từ trước khi nghị án. Các video được sử dụng làm bằng chứng có tính thuyết phục đối với tôi. Về phía bị cáo, họ không có nhiều căn cứ để bào chữa. Họ không có bằng chứng để chứng minh luận cứ của mình.” .Những lời phát biểu của các vị trong bồi thẩm đoàn chỉ là những cảm xúc mà thôi. Quyết định một sự việc quan trọng trên đời sống người khác . mà họ nói ”quyết định quá dể dàng đối với họ và quyết định đã được hình thành trong thơì gian nghị án (phát biểu của bà Liz Diep) Thật là buồn cười.

Tại Hoa Kỳ hằng năm có cả hàng trăm vụ kiện về phỉ báng mạ lỵ, 75% các vụ kiện đó, bồi thẩm đoàn quyết định cho nguyên đơn được bồi thường cả triệu Mỹ kim. Nhưng khi có kháng cáo, thì các nhà báo bị kiện thường được tha bổng hoặc được giảm bớt số tiềm bồi thường. Lý do là tại tòa sơ thẩm địa hạt, bồi thẩm đoàn thường không mấy thông thạo về luật pháp, nên đã ứng dụng sai luật phỉ báng mạ lỵ khi cho nguyên đơn hưởng bồi thường quá dễ dáng, hoặc quá nhiều. Căn cứ vào những sơ hở kỹ thuật đó, luật sư bên bị đơn [phóng viên, toà soạn] có cơ sở để xin phúc thẩm và thắng kiện lại.( theo L.Nguyễn Đat phD)

*** Một vài điểm cần chú ý :

1/ Hoạt động của các tòa án địa phương ( district court,county court,municiple court…..)liên quan mật thiết đến tình hình xã hội, chính trị, và an ninh tại địa phương. Mỗi quyết định của thẩm phán và bồi thẩm đoàn có tác động không những đến các phía trực tiếp liên quan đến vụ án mà còn ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống xã hội và kinh tế của các cộng đồng địa phương đó

2/ Thẩm quyền của các tòa phúc thẩm không phải là xử lại án sơ thẩm, hay thay đổi quyết định của tòa sơ thẩm. Hay nói cách khác, tòa phúc thẩm không tuyên bố bị cáo có tội hay vô tội, mà chỉ xem xét những vi phạm, nếu có, về thủ tục trong án sơ thẩm. Tòa phúc thẩm thường chỉ căn cứ vào các tài liệu và hồ sơ đã được dùng trong án sơ thẩm. Đôi khi luật sư công tố và bào chữa của án sơ thẩm được mời đến tòa phúc thẩm để trình bày cho rõ những luật cứ đã được đưa ra tại tòa sơ thẩm. Khi tòa phúc thẩm tuyên bố hủy án sơ thẩm không có nghĩa là bị cáo được tuyên bố vô tội, mà án sơ thẩm đã có vi phạm khi tiến hành, do đó bị vô hiệu lực. Bị can có thể bị tái thẩm trong một phiên tòa khác ở cấp địa phương trên cùng một tội danh.( theo Viet phD)

3/ Nguyên đơn thường có thành tích bê bối trong xã hội, nay phổ biến thêm một tin xấu cũng không làm thiệt hại hơn cho nguyên đơn [đăng tin đương sư ăn cắp, làm đĩ v.v. khi trong quá khứ đương sự đã có lý lịch, tin tức công khai về những thành tích trên]. Do đó cũng có thể coi là một yếu tố miễn trách (theo Lưu Nguyễn Đạt phD).

Người viết thấy rằng trong vụ kiện vừa qua , báo người Việt đã nằm trong trường hợp điểm 1 và 3 .ở trên đây cũng là điểm thuận lợi cho SaiGòn Nhỏ kháng án

** * Ý kiến của người viết :

Trong những ngày qua nhiều bài viết trên diển đàn của cả hai phía (HDT và NV).. Chúng tôi có đọc rất kỷ để có một vài ý kiến sau :

1/ Những việc làm của báo Người Việt từ trước đến nay đã chứng tỏ cho chúng ta thấy báo NV có đứng về phía người Việt Quốc Gia tỵ nạn CS hay không?

2/ Những bài viết của Sài Gòn Nhỏ trước đây nói về các “ngài” “tù lương tâm” đó là ý kiến của mỗi người và có nhận xét,phát biểu riêng,không thể nói đó là đúng hoặc sai. Cộng Sản luôn xảo quyệt,làm đủ thứ trò để đánh lừa mọi người . Thật khó phân biệt. Riêng người viết bài này không bao giờ tin những nhân vật được gọi là “phản tỉnh” hay tù “lương tâm” được Mỹ rước. Phỉ bán họ thì không,nhưng chỉ nêu lên ý kiến “nên đề phòng,đừng vội tin” . Từ trước đến nay người viết chưa thấy (nếu quý vị nào biệt chỉ giúp) một người nào có một tinh thần Quốc Gia chân chính ở trong nước chống lại bọn vc ,chống lại chủ nghĩa cộng sản được Mỹ và vc thỏa thuận cho qua Mỹ Cần nên suy nghĩ điều này.

3/ Chống vc rất dể ,có thể nói là 99% chống cộng,nhưng chống lại bọn tay sai,ăn cơm Quốc Gia thờ ma cs hoặc bọn chính trị xôi thịt,hòa hợp hòa giải thì rát khó,có thể nói mấy ai chống vì chống sẽ đụng chạm,mất lòng… Bà HDT dám chống một cách ra mặt những thành phần vì lợi mà bán danh dự , bà chống mà không sợ mất quảng cáo(miếng cơm của bà) ,với cá nhân người viết luông tôn trọng những người như bà HDT .

                     4/ Giửa Saì Gòn Nhỏ và báo người Việt chúng ta nên đứng về phía nào để khỏi phải nhúng tay vào máu?

5/ Những người nào là Quốc Gia thật sự mà trước đây vì hiềm khích gì với bà HDT hay bị bà HDT “tẩm quất” thì lúc này nếu không ủng hộ bà HDT (còn hận thù vì bài bào của bà) thì nên giử thái độ im lặng (coi như chẳng có gì xảy ra).là tốt ,nếu lên tiếng để trả thù(cơ hội đến) thì không nên làm.Vì làm như vậy mất đi một lực đối kháng với báo Người Việt’

III. Kết luận

Chúng ta chờ xem. Người viết tin tưởng khi bà HDT kháng án thì tòa phúc thẩm sẽ xóa bản án (tin vì những phân tích nêu trên) .

Những vụ kiện như của ông Đỗ văn Phúc (Texas) hay Sài Gòn Nhỏ bây giờ và các vụ kiện khác mà bên nguyên tố cáo bên bị là phỉ báng ,mạ lị… gắn cho họ là Cộng Sản . Điều này chúng ta thấy gì ? Cộng Sản là xấu xa,bỉ ổi,một loại người mà nhân loại gớm ghê. Những kẻ nào thân hay tay sai với cộng sản thì nhục biết bao . Tòa án Mỹ phạt rất nặng những ai vu cáo cho kẻ khác là VC đủ để thấy vc như thế nào. Mong rằng những thành phần hòa giải hòa hợp,nối giáo cho vc trở về với lưong tri của mình,để khỏi mang nhục ./.

Bia Miệng

%d bloggers like this: