Tẩy Chay Hàng Hóa Tàu Cộng…

TẨY CHAY HÀNG HOÁ TRUNG QUỐC TẠI HOA KỲ

Nếu 2 tỉ người không mua $20/month sản phẩm Tàu cộng,Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch 10 tỉ đô la/month.

Nếu 2 tỉ người không mua $200/month sản phẩm Tàu cộng, Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch 100 tỉ đô la/month.

Nghĩa là Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch $1,200,000,000,000/year (1,200 tỉ đô la mỗi năm).

 Đây là sự đánh trả lại Tàu cộng gian thương quỉ quyệt (đang kiếm tiền của nhân loại một cách bất chính để GIẾT NHÂN LOẠI và LŨNG ĐOẠN THẾ GIỚI) mà tất cả người Việt nam yêu nước, người dân trung hậu chân chính trên toàn thế giới có thể tham gia trực tiếp để cứu mình, cứu đời.

 Hưởng ứng lời kêu gọi toàn cầu: TẨY CHAY HÀNG HÓA, THỨC ĂN, THỨC UỐNG, DU LỊCH TÀU CỘNG !!! Các tổ chức cộng đồng người Việt quốc gia tại hải ngoại nên cùng với Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến bất bạo động thế giới chống Tàu cộng:

 TẨY CHAY HÀNG HÓA, THỨC ĂN, THỨC UỐNG, DU LỊCH TÀU CỘNG

Nên tổ chức các cuộc hội thảo, các buổi mít tinh, các buổi hiệp thông cầu nguyện gióng lên lời kêu gọi:

TẨY CHAY HÀNG HÓA, THỨC ĂN, THỨC UỐNG, DU LỊCH TÀU CỘNG

 *********

Mỗi cá nhân đều có thể tham gia Cuộc chiến bất bạo động toàn cầu chống Tàu cộng “DEATH BY CHINA” bằng cách phổ biến rộng rãi Bài viết dưới đây cùng Lời Kêu gọi qua truyền thông báo chí, Facebook, Twitters, websites, emails, etc …

Advertisements

SỰ HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI MỸ VỀ KINH TẾ ĐÃ ĐƯA ĐẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG …


Người Mỹ có thể ứng phó với cơn khủng hoảng kinh tế, tài chánh dễ dàng hơn, nếu ngay từ đầu họ đã biết thận trọng trong việc tiết kiệm, đầu tư, hiểu rõ việc làm của mình khi chọn các quyết định tài chánh cá nhân như ký giấy nợ vay tiền, bỏ tiền vào quĩ đầu tư vân vân..

Thôi nào, chúng ta hãy nên nói thật với nhau đi:chúng ta chẳng bao giờ hiểu rõ ngọn ngành của những thuật ngữ đầu tư tài chánh. Không những đối với những chữ phức tạp như “credit swaps” hay “derivatives” mà ngay cả những cụm từ đơn giản hơn như “compound interest” hay “balloon payments”, chúng ta cũng chẳng hiểu đến nơi đến chốn những chữ này. Thế mà chúng ta vẫn cứ làm nó tỉnh bơ. Chúng ta đọc tài liệu về “hedge fund”, đọc rồi nhớ mại mại thôi, chứ chẳng hiểu rõ chuyện gì xảy ra đối với những loại “hedge fund” này.

Vấn đề lớn nhất không ai tiện nói ra đằng sau lưng cái hoạ khổng lồ gây ra bởi vụ “subprime mortgage”, và rồi “bailout” chính là việc đa số người Mỹ chẳng hiếu chút gì về nhửng yếu tố cơ bản của nền kinh tế. Gặp phải những dụng cụ đầu tư tài chánh ngày càng nhiều, phức tạp và bí hiểm, kiến thức của chúng ta không thể theo kịp nổi, chúng ta chỉ còn trông nhờ vào tấm lòng đạo đức, và tinh thần trách nhiệm tối thiểu của những người làm trong ngành này. Chúng ta vái thầm trong bụng rằng các ông chủ ngân hàng, các trung gian môi giới, các bảng chỉ dẫn đánh giá từng loại quĩ đầu tư, hay nhữ cố vấn tài chánh giúp cho chúng ta những khi chúng ta cần chọn lựa quyết định.

Một phần nguyên do gây nên tình trạng bi đát hiện nay là do ở việc chúng ta tin cậy vào người khác để họ chọn lựa giúp cho mình. Nói theo kiểu ngụ ngôn là hầu hết chúng ta không dè “ông hoàng đế không mặc quần áo”, và không dám nói to lên điều này. Chúng ta tìm đâu ra lý do gỉai nghĩa được hành vi của hàng triệu người đặt bút ký giấy nợ vay tiền mua nhà mà không hiểu rành rẽ hậu quả sẽ ra sao, hay hàng ngàn người đưa tiền triệu cho tên đại bịp Bernard Madoff nhờ hắn đầu tư mà không hiểu rõ ràng sách lược đầu tư sinh lới của y như thế nào.

Hồi còn đang ra tranh cử tổng thống, ông John McCain bị chỉ trích thậm tệ khi ông nói thật rằng ông không thể nào hiểu nổi hết về những vấn đề kinh tế phức tạp. Cái tội chính của ông McCain không phải là vấn đề ông kém hiểu biết về kinh tế, rất có thể các vị nghị sĩ đồng viện của ông cũng chẳng khá gì hơn ông, có điều rõ rệt là ông đã thành thật khi nói lên điều này. Khi một Thượng Nghị Sĩ mắng những nghị sĩ khác, hỏi rằng họ đã đọc đạo luật “bailout” chưa, mà vội lên tiếng chê bai. Chúng ta có quyền hỏi lại ông thượng nghị sĩ này ông đã đọc rồi nhưng ông có hiểu tường tận đạo luật “bailout” không.

Nếu chỉ là một bài toán đố khó thì sự kém hiểu biết là điều dễ hiểu, nhưng tình hình tài chánh thời buổi này quá phức tạp, khiến cho việc đọc để hiểu nó là một vấn đề trần ai, nan giải. Hãy đơn giản hóa nó đi, chẳng hạn lấy loại nợ 30 năm lãi xuất cố định để vay tiền mua nhà, một kiểu nợ dùng cho ai cũng được “one size fits all”. Khi đó không cần phải nói thêm nợ loại “subprime” đồng nghĩa với “foreclosed”, tức là có ngày sẽ bị ngân hàng lấy lại nhà vì trả nợ không nổi. Khi quĩ hưu bổng được đặt ra, không cần phải hiểu rõ những điều cơ bản trong quĩ 401 (k), cứ để dành tiền vào đó là chắc chắn. Ngày xưa Hoa Kỳ vẫn nổi tiếng là một quốc gia có những ngành kinh doanh lớn, cung cấp các mặt hàng, dịch vụ thật tốt, có chất lượng đáng tin cậy. Thế rồi, bỗng nhiên lúc gần đây quốc gia này trở thành một nước cung cấp tài chánh cho những công ty cung ứng hàng hoá, dịch vụ, và những công ty đó cung ứng hàng tốt hay xấu là vấn đề hên xui, may ruỉ, giống như ta đi đánh bạc.

Xin các bạn đừng hiểu sai ý của tôi: vụ khủng hoảng hiện nay không hẳn chỉ là lỗi của các ngân hàng lớn. Tôi cũng không muốn qui trách nhiệm cho những người dân đóng thuế bình thường phải chịu những thiệt hại gây ra bởi việc làm sai trái của những công ty lớn. Tôi chỉ muốn nói rằng qua cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chánh hiện nay, chúng ta rút tỉa ra được một bài học là trong lãnh vực tài chánh cá nhân, cũng như nhận định về chính trị, đa số chúng ta không hiểu biết rõ về việc mình làm, vì thế mới đưa đến nông nỗi như ngày hôm nay.

Như vậy, là một quốc gia, chúng ta phải làm gì để giáo dục người dân đây? Lấy ví dụ cha mẹ nên dạy con cái những điều căn bản về việc sử dụng tiền, về kinh tế, tạm gọi là môn Kinh Tế Học căn bản, Econ101. Nhưng rồi, lại giống như môn giáo dục sinh lý, cha mẹ cứ thường để con cái tự tìm hiểu lấy, học hỏi qua người khác. Trở lại vấn đề kinh tế, dĩ nhiên, bạn bè của nhóm bạn trẻ xúi bảo nhau hãy dùng thẻ plastic. Hồi năm 2007, tổ chức Sallie Mac nghiên cứu cho thây hơn phân nửa sinh viên đều mang một món nợ trong người từ $5,000 trở lên vì dùng thẻ tín dụng lúc còn đang đi học, và khoảng một phần ba sinh viên mắc nợ đến hơn $10,000.

Bây giờ, một số tiểu bang bắt buộc phải dạy môn tài chánh ở bậc trung học. Một số nhà nghiên cứu nói rằng có dạy đi chăng nữa cũng chẳng ích lợi gì. Nhưng hãy cứ để ông thầy, hay cô giáo ở trường trung học tiểu bang Oregon giải thích thật rõ, hay chiếu cho học sinh xem cuốn video, chỉ cho các em biết một món hàng mua bằng thẻ tín dụng sẽ thực sự tốn là bao nhiêu nếu như lúc “bill” gởi về nhà, các em không chịu trả sạch nợ ngay tức khắc.( Sẽ được thêm điểm nếu em nào cho biết lãi suất các thẻ tín dụng tính trên số nợ chưa trả hiện nay là bao nhiêu?).

Hài tội mấy người chịu trách nhiệm canh chừng các định chế tài chánh như Ủy Ban Giám Sát Thị Trường Buôn Bán Chứng Khoán, Securities and Exchange Commission, hay chê bai mấy bảng đánh giá (rating) thành tích hoat động của các funds, hay loại stocks, loại bonds thì dễ lắm, song cũng chẳng đi đến đâu. Chúng ta gọi những người bị thua lỗ vì kế hoạch lừa gạt kiểu Ponzi của tên Bernard Madoff là những “nạn nhân”. Tội nghiệp họ chăng? Tại sao ngay từ đầu họ không chịu tìm hiểu tường tận lối làm ăn của tên Bernie Madoff. Họ cả tin vào hắn, không hề thắc mắc gì cả, đem trứng giao cho ác, bây giờ chỉ có nước bắc thang lên hỏi ông giời.

Người Mỹ đã lơ là bỏ qua nhiều thứ cần tìm hiểu trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng thế mà cách đây khoảng 20 năm, có một cuốn sách mang tựa đề “The Way Things Work” “Giải thích cách thức diễn tiến, xảy ra của nhiều việc trong đời sống hàng ngày.”. Cuốn sách này đã đứng đầu trong danh mục sách bán chạy nhất – best-seller- suốt một năm. Bây giờ chẳng ai thèm để ý đến những việc thường xảy ra hàng ngày. Nhà bị ngập nước vì không biết đóng van nước chính ở dưới garage.

Thông thường chúng ta hay có cái tật dự đoán rằng đã có người lo dùm (assuming control) về một số vấn đề phức tạp. Hãy quan sát cách thức người Mỹ lo lắng cho sức khoẻ của họ lúc gần đây so với thời thế hệ trước. Ngày xưa, các bác sĩ là những bậc thầy, bậc thánh, họ giữ tất cả những bí mật về bệnh trạng, và cách trị liệu cho con bệnh, họ bảo sao là con bệnh cứ thế mà làm, không hề thắc mắc, hay hỏi ngược lại. Giống như chúng ta nhờ mấy ông giám đốc tài chánh coi chừng giúp các qũi đầu tư của mình. Bây giờ người Mỹ quan niệm khác xưa nhiều lắm, họ coi bác sĩ như người ngang hàng (partner) để hỏi ý, để nói chuyện, tìm hiểu tất cả các loại thuốc, các phương pháp trị liệu khả dụng, để rồi bàn thảo tay đôi với bác sĩ. Chính bệnh nhân đi tìm hiểu lấy bệnh của mình, họ tự giáo dục bản thân họ bằng những kiến thức do họ đi tìm tòi, học hỏi, trước khi chọn lựa nên để bác sĩ giải phẫu, hay trị liệu theo phương pháp nào.

Tôi nhớ cách đây cũng có đến 30 năm rồi, tôi được giao trách nhiệm viết một câu chuyện liên quan đến quầy bán rượu phục vụ nhân viên làm việc ở Thị Trường Chứng Khoán Wall Street. Tôi mù tịt chẳng biết tí gì về chứng khoán, hay những việc làm xảy ra ở Wall Street. Bực quá, tôi đi tìm một ký giả chuyên viết trong trang Thương Mại Kinh Doanh, nhờ ông ta chỉ dạy cho tôi một ít kiến thức về thị trường chứng khoán. Ông buột miệng cười lớn, một hồi sau, ông nghiến răng và nói rít lên: “Nói thật với cô quá nửa số người làm việc trong phòng tin tức này chẳng biết mô tê gì về thị trường chứng khoán cả. Ấy thế mà chẳng có ông bà nào dám đứng ra thú nhận điều này.”. Đôi khi thừa nhận mình dốt, không hiểu biết điều gì thế mà lại hay. Bởi vì cái mà mình không biết nó gây thiệt hại cho ta về sau. Chúng ta chửi rủa công ty AIG ư? Được lắm, cứ chửi nữa đi . Nhưng giá mà ngay từ đầu, chúng ta biết trước cơ sự sẽ xảy ra như thế này thì hay hơn, vì chúng ta đã tránh được thảm hoạ của ngày hôm nay.

Bài nhận định của Anna Quindlen trong Newsweek ngày 30/3/09

Nguyễn Minh Tâm dịch.


CÁI VÒI NGÀN DẶM TỪ VN ĐẾN SEATTLE, Washington

Từ Việt Nam Sang Tiểu Sài Gòn, Seattle

*Nguyễn Huỳnh (Cập nhật từ bài tháng giêng năm 2009)

Ngày 7/11/2007 ông Giáp Phúc Đạt và Đặng Ghi đã nhận phần thưởng của Hội Luật Sư Đoàn sau khi luật sư Huỳnh Thi cùng 4 luật sư khác và Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại về VN vào tháng 4/2007 để họp với bà phó chủ tịch UBND thành phố Sài Gòn.

Ngày 7/11/2007 ông Giáp Phúc Đạt và Đặng Ghi đã nhận phần thưởng của Hội Luật Sư Đoàn sau khi luật sư Huỳnh Thi cùng 4 luật sư khác và Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại về VN vào tháng 4/2007 để họp với bà phó chủ tịch UBND thành phố Sài Gòn.

Tại sao không có đoàn thể nào, nhất là các nhóm được mệnh danh là “chống cộng” từ xưa đến nay, lên tiếng và có phương án hành động khi ai cũng biết rõ những người “chuyên gia” giới trẻ? Nhóm chính trẻ này thuộc Phòng Thương Mại tiểu bang Washington (đứng đầu là Quang Nguyễn cùng một số tài phiệt địa ốc) đã công khai quảng cáo là nhận tiền từ ai, và rất nhiều cơ may là mầm mống vững chải giúp cho nghị quyết 36 thành công ở Seattle chăng?

Đó là câu hỏi rất quan trọng đã được tạp chí Bia Miệng đặt ra trước khi kết thúc bài viết với tựa đề “(1.5 + 2.0 @ Seattle) + (7X + 8X @ VN) = 36 ???” trong số báo tháng 12/2008.  Trong số báo này và lần lượt loạt bài kế tiếp, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa thêm các dữ kiện liên hệ đến các nhân vật và tổ chức quan trọng trong mạng lưới này.

SơĐồCộngĐồngSeattle
Chúng tôi cũng cung cấp phần phân nữa bản đồ phác họa còn lại ở cuối bài, và sẽ đưa ra ánh sáng những bằng chứng khác trong số tới.  Trước hết xin đề cập đến thành phần rường cột nuôi mạng lưới địa phương và cái vòi ngàn dặm cho số báo này.

THÀNH PHẦN RƯỜNG CỘT NUÔI MẠNG LƯỚI LẪN CÁI VÒI NGÀN DẶM

Có bốn người đáng chú ý nhất sau đây trong tổng số các cố vấn và cho tiền Phòng Thương Mại của Quang Nguyễn tại Seattle. Hai người trong bốn thương gia này rất “sáng giá” ở Việt Nam là Trần Đức và Sơn Michael Phạm. Đây là thành phần rường cột làm việc chặt chẽ trực tiếp với VN. Họ dùng tiền để gây ảnh hưởng lớn trong các bộ phận địa phương từ mặt báo chí đến phương diện văn hóa và tôn giáo. Đa số liên hệ mật thiết với chính quyền Mỹ và tác nhân tài phiệt để tạo ảnh hưởng cho công việc áp phe làm ăn và bành trướng thế lực.

(1) Tâm Nguyễn (chủ nhà hàng Sàigòn Bistro): đây là người cố vấn đỡ đầu kỳ cựu cho Phòng Thương mại (có tiếng là không chịu chào cờ từ xưa tới nay). Tên Võ Thành Đông, chủ nhiệm tờ Phương Đông Times, tiết lộ trước mặt cô QT, anh Hiếu, TPTrọng, Nguyễn Tấn Lai, và Linh Vũ vào ngày 29 tháng 6, 2008, vào khoảng 4 giờ chiều tại nhà hàng Minh của bà Dung như sau: Tâm Nguyễn/nhà hàng Sàigòn Bistro làm việc với một bộ phận nhân sự để móc nối đưa du học sinh sang ở. Những du học sinh này thuê ở 10 căn nhà của ông ta, và từ đó một số trở thành bồi bàn làm việc tại nhà hàng của y để có thể kiếm sống bằng tiền mặt. Y biếu xén hỗ trợ cho Hà Nội hằng năm sau khi khai thuế ở Hoa Kỳ là lỗ lã.

Nguyễn Tâm, một trong những cố vấn quan trọng cho Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại.

Nguyễn Tâm, một trong những cố vấn quan trọng cho Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại.

Ngoài ra, ông ta làm việc móc nối với một số tài phiệt người Hoa và người Nhật (thế hệ thứ hai thứ ba gốc Á châu) với một mạng lưới kinh tài lớn ở Seattle. Các tua tuyến nội hay ngoại của người bản xứ tò mò đến “viếng thăm” Little Saigon Seattle thì sẽ ghé đến nhà hàng y. Nguyễn Tấn Lai, cây bồi bút của báo Phương Đông Times, cũng tâm sự trên điện thoại với cô Quỳnh-Trâm về điều tương tự. Y gọi Tâm Nguyễn là dân “thương buôn” chú trọng lợi nhuận trên hết. Y tiết lộ vào ngày 16/6/2008 rằng tên Tâm/SG Bistro rất thân cận với Hà Nội. NTLai có người quen cho biết là: Tâm Nguyễn sau khi nghe người này than phiền là thẻ Visa của họ bị làm khó dễ, y liền lập tức bảo sao không cho y biết ngay. Y chỉ cần bắt điện thoại gọi thẳng về Hà Nội là mọi chuyện xong ngay lập tức. Cô Minh Đức ở cơ quan Một Dấu Nối thì tôn thờ và gọi y là “thị trưởng không chính thức” của Little Saigon.

Trí Võ, giám đốc công ty thầu xây cất, TriWay Enterprises, Olympia, trong đêm dạ tiệc của Hội Luật sư Đoàn (VABWA), ngày 28/10/2008.  Đây là đêm dạ tiệc mà bà giám đốc Jerilyn Brusseau thuộc hội thân cộng PeaceTrees Vietnam đã được mời làm diễn giả chính. Hội của bà đã đón rước tên ĐS Lê Công Phụng—người đã đến Seattle hai ngày trước đó và đã gặp gỡ đại sứ Mỹ ở VN Michalak.

Trí Võ, giám đốc công ty thầu xây cất, TriWay Enterprises, Olympia, trong đêm dạ tiệc của Hội Luật sư Đoàn (VABWA), ngày 28/10/2008. Đây là đêm dạ tiệc mà bà giám đốc Jerilyn Brusseau thuộc hội thân cộng PeaceTrees Vietnam đã được mời làm diễn giả chính. Hội của bà đã đón rước tên ĐS Lê Công Phụng—người đã đến Seattle hai ngày trước đó và đã gặp gỡ đại sứ Mỹ ở VN Michalak.

(2) Trí Võ (chủ công ty thầu Triway Enterprises): y chuyên về xây cất nhà cửa, Olympia, WA. Là một tỷ phú có chân trong hội đồng quản trị của phòng Thương Mại. Y đang muốn bành trướng thị trường thầu này tại Washington cũng như Việt Nam. Theo lời Tăng Phước Trọng vào ngày 20/5/2008 chia xẻ với cô Quỳnh Trâm tại trường Aki Kurose, tên Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại đã từng lái xe từ Seattle xuống Olympia để chơi golf cả buổi chiều với ông Trí Võ. Mục đích để có thể xin xỏ tiền hỗ trợ cho Phòng Thương Mại từ 10 đến 15 ngàn đô la trong một buổi chiều như thế.

Trí Võ cho Tăng Phước Trọng biết thêm là khi Quang Nguyễn than phiền về những thủ đoạn của tập đoàn xây cất, ông Trí đã trả lời rằng “You asked the wrong teacher!” (có nghĩa là “mày hỏi sai thầy rồi!”–vì quyết định làm ăn của ông ta cũng giống như tập đoàn xây cất trong việc kiếm lợi nhuận làm giàu mà thôi). Mới đây nhất là ông Trí Võ này trong vẻ thách thức đã ngang nhiên đến dự đêm dạ tiệc hằng năm của nhóm Luật sư đoàn VABAW vào ngày 16/10/2008 (xin xem hình có kèm theo dưới bài này). Cũng như Trần Đức, Trí Võ cho tiền một số nhóm Seattle có tên tuổi–nhất là các nhóm mang danh “chống cộng” nên không ai dám hó hé biểu tình các cuộc hội họp mà y đến tham dự.

(3) Trần Đức (chủ tập đoàn chợ Viet Wah): ông này được ca ngợi vinh danh trên TV ở Việt Nam nhiều ngày. Y đã mua chuộc tất cả báo chí lấy quảng cáo ở Seattle.

Trần Đức, thương gia làm ăn với CSVN & một trong những cố vấn quan trọng cho Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại.

Trần Đức, thương gia làm ăn với CSVN & một trong những cố vấn quan trọng cho Quang Nguyễn/Phòng Thương Mại.

Trần Đức vừa mới tổ chức bảo trợ cho cô Tim Rebeau tại nhà hàng mới Tea Palace của ông ta vào ngày 31/10/2008, và cũng đã cho tổ chức gây quỹ cho Rob McKenna, đảng Cộng Hòa, cùng với nhóm Kim Long/Tăng Phước Trọng/Phạm Kim.

Y cũng đã bảo trợ tiền bạc cho các nhóm địa phương sauđây (http://www.vietwah.com/company/index.htm):

(1) Vovinam của Thái Nhật Lĩnh;

(2) Seafair Pageant (diễn hành xe hoa) thuộc nhóm Giáp Phúc Đạt/Nguyễn Xuân Dũng/Denny Điệp Đặng;

(3) trường Việt ngữ Hồng Bàng;

(4) Tết in Seattle của Kiệt Lý và Nguyễn Thu Vân.

Ngoài ra, y còn cho tiền một nhóm lấy nhãn hiệu ” Hội Phụ Nữ Việt Mỹ Nhân Đạo” (Vietnamese American Women Humanitarian Organization.   Đây là nhóm đã tổ chức quyên tiền gọi là “cứu mù” do tên Đỗ Vẫn Trọn từ San José lên đạo diễn khoảng 3 năm trước đây.  Vì bài viết tháng 12 của Bia Miệng đã đề cập nhiều về Trần Đức nên trong bài này chúng tôi xin chuyển sang các dữ kiện quan trọng nhất nằm trong xấp tài liệu về nhân vật thứ tư.

 

(4) Sơn Michael Phạm (Greater Seattle Vietnam Association):  Y khoảng 52 tuổi, có vợ gốc Mỹ trắng tên Judy Phạm là giáo viên thuộc chương trình special education cho khu học chánh Lake Washington. Y tạo cho mình một công ty tư nhân có tên là U.S.-Asia Gateway LLC chuyên về cố vấn đầu tư hay thương mại mậu dịch tại Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung. Hắn đồng thời là hội trưởng một hội “bất vụ lợi” dưới nhãn hiệu Greater Seattle Vietnam Association. Hội này được thành lập vào tháng 12/1992 và có sự hỗ trợ của Thị Trưởng Paul Schell lúc đó, và Greg Nickels bây giờ, cùng với các nghị viên, và nhân viên thành phố Seattle.

Cũng như Trần Đức, tên Michael Sơn Phạm là kẻ môi giới giữa Hà nội và Seattle trong cả hai phương diện–thương trường và từ thiện. Hiện nay Sơn Michael Phạm và Gary Johnson–một nhân viên thành phố cao cấp thuộc Phòng Kế Hoạch và Phát Triển đô thị (DPD)–cùng nắm chức hội trưởng.  Gary Johnson thì kiêm luôn cả chức thủ quỹ. Ngoài ra, hắn làm việc với trường đại học UW trực tiếp qua bà quản thủ thư viện khu Đông Nam Á tên là Judith Henchy. Y thị này hiện đang giữ chức thư ký của hội Greater Seattle Vietnam Association. Một y thị tên Khuê Đặng thì nắm chức hội phó.

Greater Seattle Vietnam Association được đỡ đầu cố vấn của một số cơ quan chính sau đây:  Thành Phố Seattle, Liên Minh Phát Triển Mậu Dịch của địa bàn Seattle (Trade Development Alliance of Greater Seattle), trường đại học UW (University of Washington), hải cảng Seattle (Port of Seattle), công ty Boeing, hai văn phòng cấp tiểu bang chuyên về phát triển kinh tế trong và ngoài nước (Washington State Office of Trade & Economic Development và Washington Council on International Trade), và một số cơ quan bất vụ lợi (NGOs) chẳng hạn như Peace Trees Vietnam. Hai tên tuổi đáng chú ý là cựu đại sứ Douglas “Pete” Peterson đã “đóng đô” tại Việt Nam từ 1997-2001, và Jim McDermott Thượng Nghị Sĩ khu vực 7 thuộc đảng dân chủ. Hai người này đã cùng với bà nghị viên thành phố Seattle tên là Jan Drago nằm trong ban cố vấn cho Sơn Michael Phạm.

Gary Johnson và Anne Xuân Clark (Gates Foundation) tại tiệc gây quỹ cho Hội Vietnam Scholarship Foundation tại nhà hàng Long của Tâm Nguyễn (chủ nhà hàng Tamarind Tree) ngày10/3/2009. Gary Johnson, giữ chức đồng chủ tịch với Sơn Michael Phạm, thuộc hội Greater Seattle Vietnam Association.  Đây là cơ quan thành lập từ tháng 12/1992 và làm trung gian cho sự giao thương giữa Seattle và thành phố “chị em” Hải Phòng.

Gary Johnson và Anne Xuân Clark (Gates Foundation) tại tiệc gây quỹ cho Hội Vietnam Scholarship Foundation tại nhà hàng Long của Tâm Nguyễn (chủ nhà hàng Tamarind Tree) ngày10/3/2009. Gary Johnson, giữ chức đồng chủ tịch với Sơn Michael Phạm, thuộc hội Greater Seattle Vietnam Association. Đây là cơ quan thành lập từ tháng 12/1992 và làm trung gian cho sự giao thương giữa Seattle và thành phố “chị em” Hải Phòng.

Điều đáng chú ý là sau khi thành lập được ba năm, Hội đồng Thành Phố Seattle đã cho ra đời chương trình “thành phố chị em” vào tháng 9/1995.  Họ tạo ra các hoạt động cho hội của Sơn Michael Phạm và đã chọn Hải Phòng là thành phố kết nghĩa với Seattle. Chương trình “chị em” với Hải Phòng này được tiền bảo trợ của World Bank, USAID và USAEP.  Họ khéo léo dùng chiêu bài “xóa đói giảm nghèo” để che đậy các phương tiện tinh xảo giúp họ phát triển giao thương mậu dịch dễ dàng vì cả hai thành phố đều có hải cảng. Việt Nam dĩ nhiên trở thành con mồi thương trường hấp dẫn nhờ có chương trình “chị em”. Công dọn đường mai mối thì từ hội của Sơn Michael Phạm. Bằng chứng là sau tám năm, vào hai tháng 6 và 7 của năm 2003, các hoạt động giữa Việt Nam (Vũng Tàu & Hải Phòng) và Washington (Tacoma & Seattle) đã rất nhộn nhịp và làm cho năm này trở thành một năm đáng nhớ.

Hoạt động tiêu biểu nào đã xảy ra trong năm 2003? Trong lúc công ty Boeing đãi tên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Tâm Chiến đến làm lễ nhận 4 chiếc máy bay kiểu 777 (cho tuyến bay giữa VN và Pháp cũng như nội địa) vào giữa tháng 6, thì Andreas Udbye—tên Giám đốc Trung Tâm Mậu Dịch Quốc Tế–cùng với 5 đại biểu khác (trong đó có Brian Ebersole là cựu thị trưởng Thành Phố Tacoma kiêm cựu viện trưởng trường dạy nghề Bates College) tại Tacoma vừa kết thúc chuyến “công du thăm dò” tại Vũng Tàu. Tacoma cũng đã bắt chước Seattle ngấp nghé muốn bành trướng giao thương với Việt Nam qua cảng Vũng Tàu này. Tuy nhiên, ý định muốn kết nghĩa với thành phố Vũng Tàu có hải cảng, kỹ nghệ du lịch và dầu hỏa này đã trục trặc không thành.

Điều đáng chú ý cũng trong thời gian đó (từ ngày 15 đến 23/6/2003) một phái đoàn từ Hải Phòng đến Seattle qua chương trình kết nghĩa chị em với trung gian là hội của Sơn Michael Phạm.   Joseph Mạnh Nguyễn, chủ nhân một tiệm điện lạnh, đã trở thành một trong các đại diện nồng cốt tiếp đón và hướng dẫn phái đoàn này. Y giới thiệu các cơ sở buôn bán của người Việt tại Seattle, trong đó có hệ thống phở Bắc của Phạm Niên¬—kẻ đã sẵn sàng “đánh đổi lá cờ vàng bằng bảy tô phở”. Chắc quý vị độc giả vẫn còn nhớ đến tên Joseph Mạnh này chứ? Trước đó ba năm vào cuối tháng 9/2000 y đã từng là người cực lực phản đối sự lạm danh (tự xưng đại diện cộng đồng người Việt và tiểu thương Việt) của Thảo Trần—người lúc đó nằm trong cái tổ chức có tên gọi rất kêu “Hội Phát Triển Kinh Tế người Mỹ gốc Việt tại miền Nam Seattle” (Vietnamese American Business Development of South Seattle hay VABDOSS). (Ghi chú:  Ông Joseph Mạnh không còn trong các tổ chúc này từ năm 1999).

Nếu nghĩ ra thì quý vị có nhận được bài học xe điện ở khu Martin Luther King đang được lập lại tại khu Little Saigon? Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong các số báo tới sau khi tường trình đầy đủ các tài liệu về thành phần ăn chia ham danh ham lợi này.

MẠNG LƯỚI CHUNG QUANH HỘI GREATER SEATTLE VIETNAM ASSOCIATION

Chúng tôi xin được trở lại câu chuyện cái mạng lưới trổ ra từ hội của Sơn Michael Phạm. Quý vị có biết các tổ chức Việt nào đã từ đầu tham gia với hội của Sơn Michael Phạm? Ai là người cùng Sơn Michael Phạm nối giáo cho Hà Nội từ năm 2000? Danh sách này dĩ nhiên không kể đến Phòng Thương Mại—một hội thật ra ra đời non nớt và gia nhập sau cùng. Xin mời quý vị đọc tiếp.

Sau dạ tiệc lần thứ tư của hội vào năm 2000, Sơn Michael Phạm đã liệt kê tên các tổ chức hoặc cá nhân Việt hải ngoại đã hợp tác với y sau đây: nhà hàng Sàigòn Bistro, tiệm vải lụa Minh Trí, trường Việt ngữ Văn Lang, Cộng đồng Công Giáo địa phận Seattle, Sindy Nguyễn, và Trang Từ (hay Từ Đặng Minh Trang).

Kế tiếp vào đầu năm 2001 tên này đã (hoặc được nhận chỉ thị để) nặn ra kế hoạch “Kids Without Borders”. Kế hoạch này có sự giúp đỡ của 4 cơ quan cho tiền (foundation partners), và có sự hợp tác của nhiều tổ chức cả Mỹ lẫn Việt. Sơn Michael Phạm đã liệt kê 34 tổ chức hợp tác với cơ quan của y. Cuối danh sách này là ba tổ chức Việt ở Seattle sau đây: (1) trường Việt ngữ Văn Lang ở khu White Center (Van Lang Vietnamese Cultural Association in White Center), (2) cộng đồng Công Giáo địa phận Seattle (Vietnamese Catholic Community Church of Seattle) và (3) chùa Việt Nam (Vietnamese Buddhist Temple of Seattle).

Sơn Michael Phạm, đồng chủ tịch với Gary Johnson (người kiêm luôn thủ quỹ) của hội Greater Seattle Vietnam Association và thương gia công ty tư U.S.-Asia Gateway LLC chuyên về cố vấn đầu tư hay thương mại mậu dịch chủ yếu tại Việt Nam và Đông Nam Á.

Sơn Michael Phạm, đồng chủ tịch với Gary Johnson (người kiêm luôn thủ quỹ) của hội Greater Seattle Vietnam Association và thương gia công ty tư U.S.-Asia Gateway LLC chuyên về cố vấn đầu tư hay thương mại mậu dịch chủ yếu tại Việt Nam và Đông Nam Á.

Kế hoạch “Kids Without Borders” nói trên đã được tiến hành song song với phương án “Humanitour”—một chương trình có sự hợp lực của Rotary Club of the University District. Tua này được tổ chức thường kỳ đem những nhóm chiến binh Mỹ đã từng tham chiến nay muốn trở lại, hay người Mỹ chưa từng du lịch Việt Nam muốn vừa du lịch giải trí, vừa được “mang tiếng thơm” làm việc thiện dù chỉ vài bữa hay một hai tuần.

Như đã đề cập ở trên, y làm việc với Judith Henchy—người giữ chức thư ký của Cơ Quan Greater Seattle Vietnam Association. Mụ Judith Henchy người gốc Anh này đã được biết tiếng trong nhiều năm qua về công tác đem sách báo từ Việt Nam chuyển vào thư viện công cộng ở Seattle. Y thị làm việc cho tổ chức Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á (Southeast Asia Center) thuộc trường đại học UW. Nhóm này có Christoph Giebel và Joe Hanna là những người có quan điểm thiên cánh tả, và cái nhìn phiến diện về chiến tranh Việt Nam. Các vị “thông thái” này dĩ nhiên có quyền lực và dùng nhãn hiệu “học giả” để tùy tiện chọn đường nào có lợi cho nghề nghiệp của bản thân riêng trước nhất. Họ cùng đồng vận hành với các tập đoàn bản xứ chuyên khai thác và tham lợi nhuận. Hơn thế nữa, họ chưa hề trải qua những đau thương mất mát, hay thật sự muốn tìm hiểu người Việt hải ngoại. Họ không hề muốn tiếp xúc, trực tiếp lắng nghe để có thể thông hiểu, hay để có thể đạt được một cái nhìn khách quan hơn về kinh nghiệm đời sống thăng trầm của cộng đồng Việt Seattle. Nói chung thành phần này khư khư giữ ý thức hệ, đàn áp (mà không cần súng đạn) hiệu quả tiếng nói người thiểu số trong và ngoài khuôn viên trường đại học. Họ tự phong cho mình là “cấp tiến”, và chỉ tiếp xúc với thành phần nô lệ da vàng ham vui hám danh. Tệ hơn nữa là họ khinh thường đánh giá “đám người Việt ở Seattle là chống cộng quá cực đoan”.

Sơn Michael Phạm cũng tiếp tay với họ trong việc “trao đổi văn hóa”–đem nghệ sĩ từ Việt Nam sang đây phục vụ giới thượng lưu Mỹ. Mới đây nhất là cuộc biễu diễn “Ký ức – Hạn hán và cơn mưa”(phần hai) trong ba ngày từ 17 đến 19 tháng giêng, 2008, tại Manny Hall ở trường UW. Cô đạo diễn cho cuộc biểu diễn này chuyên về múa đương đại tên là Nguyễn Thủy Ea Sola (người Pháp gốc Việt). Cô Thủy EaSola đã trở về VN năm 1993 và làm việc với diễn viên nhà hát Ca vũ kịch Việt Nam ở Hà Nội. Tiền lời của ngày đầu tiên cho chuyến trình diễn tại UW đã được xung vào ngân quỹ của Kids without Border của Sơn Michael Phạm. Ngoài Peace Trees Vietnam và Greater Seattle Vietnam Association, một trong các nhóm được mệnh danh là “các hội viên cộng đồng” cho chương trình này là hội của Denny Điệp Đặng dưới tên “Vietnamese Heritage Association”.

Denny Điệp Đặng trước đây là cố vấn danh dự cho Peace Trees Vietnam và làm việc cho Weyerhaeuser–một công ty trích ngân quỹ lợi nhuận ủng hộ cho Peace Trees Vietnam. Sau khi củng cố mối quan hệ với các nhóm bản xứ, y nay đã tự thành lập một hội bất vụ lợi tên “Vietnamese Heritage Association” (Hội Di Sản Văn Hóa Việt Nam” là mai mối giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Tổ chức mang tên Vietnamese Heritage Association (Hội Di Sản Văn Hóa Việt Nam) là một hội vô vụ lợi (non-profit) được thành lập để tiện làm mai mối giữa các đại học ở Seattle và Việt Nam.

Tổ chức mang tên Vietnamese Heritage Association (Hội Di Sản Văn Hóa Việt Nam) là một hội vô vụ lợi (non-profit) được thành lập để tiện làm mai mối giữa các đại học ở Seattle và Việt Nam.

Đây là chương trình trao đổi giáo sư và học sinh giữa Mỹ và VN. Chẳng hạn chương trình cuối năm 2007 gọi là Mekong University Exchange Program với các trường UW, Seattle University, UC Berkeley and Green River Community College tại Auburn, Washington.

Denny Điệp đã tham gia hoạt động của Peace Trees Vietnam trước khi chuyển từ Oregon lên định cư tại Auburn, Washington. Một trong những bằng chứng là y đã tham dự buổi tiệc trưa lần thứ 11 của Peace Trees Vietnam tại Hội quán thể thao Washington ngày 2/11/2006—tức là một ngày sau khi Hiệp hội Luật gia người Mỹ gốc Việt ở thành phố Washington (VABAW) tổ chức đêm dạ tiệc. [Xin xem bên dưới hình ảnh của Denny Điệp đã sinh hoạt với Peace Trees Vietnam có đăng trên báo International Examiner, tháng 11/ 2006, chung với Hiệp Quách—người đang cùng Denny Điệp dự tiệc với hội Peace Trees Vietnam.]

Hiệp Quách và Denny Điệp Đặng (cố vấn danh dự cho Peace Trees và đang làm việc cho Weyerhaeuser) trong buổi tiệc trưa lần thứ 11 của Peace Trees Vietnam tại Hội quán thể thao Washington ngày 2/11/2006—một ngày sau khi Hiệp hội Luật gia người Mỹ gốc Việt ở thành phố Washington (VABAW) tổ chức đêm dạ tiệc ngày 1/11/2006 tại Câu lạc bộ các phụ nữ tốt nghiệp Đại học ở Seattle.

Hiệp Quách và Denny Điệp Đặng (cố vấn danh dự cho Peace Trees và đang làm việc cho Weyerhaeuser) trong buổi tiệc trưa lần thứ 11 của Peace Trees Vietnam tại Hội quán thể thao Washington ngày 2/11/2006—một ngày sau khi Hiệp hội Luật gia người Mỹ gốc Việt ở thành phố Washington (VABAW) tổ chức đêm dạ tiệc ngày 1/11/2006 tại Câu lạc bộ các phụ nữ tốt nghiệp Đại học ở Seattle.

Chắc quý vị vẫn chưa quên chuyện Denny Điệp đã cùng đứng móc nối với nhóm của đốc tờ răng Giáp Phúc Đạt (Công giáo địa phận Seattle) và vợ y là Ngô Quỳnh Lâm (chùa Vạn Hạnh) và Nguyễn Xuân Dũng/Cộng đồng Tacoma để nối kết với Trần Đức—tiêu biểu nhất là cuộc vận động cho xe hoa diễn hành tháng 7/2008 vừa qua? Luật sư đoàn của Huỳnh Thi cũng tham gia năng nổ trong chuyến diền hành này. Thật là nực cười và đáng khả nghi khi thấy những người Việt có máu mặt này lại sẵn sàng hoan hỉ bằng lòng cho các phóng viên truyền hình Mỹ King-5 khi tường trình về xe hoa của cộng đồng Việt Seattle thì chỉ ca ngợi có mỗi một tên thương buôn người hoa Trần Đức, của tập đoàn chợ Viet-Wah!

CÁI VÒI NGÀN DẶM NÀY CÒN ĐƯỢC TIẾP SỨC BỞI CON CHÁU NÀO?

Những kẻ tự xếp hàng nô lệ cho Mỹ này cùng đồng bọn bản xứ đã xử dụng những người trẻ Việt hải ngoại ngây thơ lý tưởng, hoặc tham danh/tiền và ham được vị nể ở Việt Nam. Trong số báo trước, chúng tôi đã đưa ra một vài trường hợp tiêu biểu của thế hệ trẻ cũng như các động cơ thúc đẩy những người này. Họ lạc loài mất phương hướng vì gia đình muốn họ thành công mà lại không chia xẻ chỉ dẫn về chuyện lịch sử chính trị. Các con cháu của cộng đồng Việt Seattle thường biết là phải đổ mồ hôi nước mắt nhiều và đụng chạm với kỳ thị. Họ nghĩ là không có cách gì tạo tiếng tăm nhanh chóng ở Mỹ nên sẵn sàng hợp tác năng nổ–trực tiếp hay gián tiếp–cho mạng lưới Seattle và cái vòi ngàn dặm về tới VN. Hà Nội và guồng máy chính quyền địa phương bản xứ cũng như các tập đoàn tư bản đã khơi trúng tâm lý các em này, nhưng thật ra chỉ lợi dụng và điều khiển trong khi xem họ như là công cụ mà thôi. Thành phần tiếp cận này là gồm những ai?

Thảo Trần

Thảo Trần con của một HO. Khi y còn rất trẻ khoảng 24 tuổi thì đã được chọn là một trong ba người chủ yếu nằm trong Hiệp hội Phát Triển Thương Mại của người Mỹ gốc Việt tại Nam Seattle hay Vietnamese American Business Development of South Seattle (VABDOSS). Đây là khoảng thời gian đề án xe điện phát khởi ở khu Martin Luther King từ trước năm 2000. Sau đó y được phong cho chức giám đốc điều hành cơ quan VAEDA (Hiệp Hội Phát Triển Kinh Tế Người Mỹ gốc Việt) nhận chút tiền còm từ Thành Phố để làm tay sai. Thảo Trần và Trần Trung Hiếu (người ở tù về tội buôn lậu bạch phiến) đã nhường chức vụ này cho Quang Nguyễn sau đó.

Thảo Trần ngồi kế bà Diane Narasaki, giám đốc cơ quan ACRS trong đêm dạ tiệc lần thứ tư của Hội Luật sư Đoàn, ngày 28/10/2008. Thảo Trần là một trong ba người chủ yếu nằm trong Hiệp hội Phát Triển Thương Mại của người Mỹ gốc Việt tại Nam Seattle hay Vietnamese American Business Development of South Seattle (VABDOSS) khi đề án xe điện phát khởi ở khu Martin Luther King trước năm 2000.

Thảo Trần ngồi kế bà Diane Narasaki, giám đốc cơ quan ACRS trong đêm dạ tiệc lần thứ tư của Hội Luật sư Đoàn, ngày 28/10/2008. Thảo Trần là một trong ba người chủ yếu nằm trong Hiệp hội Phát Triển Thương Mại của người Mỹ gốc Việt tại Nam Seattle hay Vietnamese American Business Development of South Seattle (VABDOSS) khi đề án xe điện phát khởi ở khu Martin Luther King trước năm 2000.

Tại dạ tiệc của Hiệp hội Luật gia người Mỹ gốc Việt ở tiểu bang Washington (VABAW) ngày 1/11/2006 tại Câu lạc bộ các phụ nữ tốt nghiệp Đại học ở Seattle, Thi Huỳnh thuộc Hiệp hội Luật gia đã trao tặng “Huy chương đầu tiên” về công tác “phục vụ cộng đồng” cho Thảo Trần—người được coi là một luật sư người Mỹ gốc Việt, đặc biệt trong lãnh vực các doanh nghiệp nhỏ. [Chú thích: Vào ngày 7/11/ 2007, tức là năm kế tiếp, thì Giáp Phúc Đạt và Đặng Ghi đã được “tuyên dương” và được tặng huy chương tương tự. Chúng tôi mời quý vị đón đọc thêm về hai nhân vật này thuộc thành phần “lãnh đạo” trong số báo tới.   [Xin xem hình ảnh của Đặng Ghi & Giáp Phúc Đạt nhận giải thưởng từ VABAW ( hội luật gia người Mỹ gốc Việt) ở đầu bài].

Trước khi nhận việc làm hiện tại với Phòng Cư Khu (Department of Neighborhoods) Thảo Trần đã làm việc với Rainier Valley Economic Development Fund cho đến tháng 8 năm 2007. Đây là cơ quan chính thức có quyền điều hành khoản tiền 50 triệu bồi thường cho các tiểu thương về thiệt hại gây ra do đề án xe điện ở khu vực phía Nam của Seattle.

Minh Đức Nguyễn Phạm

Minh Đức người điều hành cơ quan Một Dấu Nối (Helping Link thành lập từ năm 1993) thì cũng không khác gì Thảo Trần. Y thị luôn nghe lời cố vấn của hội đoàn quản trị. Người quan trọng nhất là một luật sư Mỹ dưới tuổi 40 tên Walter Quentin Impert–một thành viên trong Hội Luật sư đoàn VABWA của Huỳnh Thi, và người chuyên về luật thuế vụ và địa ốc đang làm cho công ty Dorsey & Whitney LLP.

Minh Đức Nguyễn Phạm, giám đốc điều hành cơ quan Một Dấu Nối (Helping Link thành lập từ năm 1993)

Minh Đức Nguyễn Phạm, giám đốc điều hành cơ quan Một Dấu Nối (Helping Link thành lập từ năm 1993)

Y thị cũng nương theo sự cố vấn chỉ đạo của Tâm Nguyễn/Saigon Bistro để cũng cố địa vị và cơ quan mình trong khu Little Saigon Seattle. Xin nhớ hội đồng quản trị của y thị không hề có người Việt nào lọt vào để tham gia. Tuy nhiên vào ngày 25/8/2007 thì y thị lại thố lộ với cô QT rằng lý do không có người Việt là vì người Việt ở Seattle rất “làm biếng”.

Vì y thị nhận nhiều tài trợ ngân quỹ từ Thành phố Seattle và Phòng Cư Khu (Department of Neighborhoods), Microsoft, Bank of America, Đạt Lư thuộc trung tâm chỉnh xương nắn gân có tên là Balance Chiropractic Center, v.v. nên phải im lặng và đồng lõa.  Tệ hơn là dù chỉ được hưởng hơn một nghìn bạc từ chương trình của nhóm giáo sư Mỹ/Việt thuộc các ĐH Seattle (chẳng hạn Lê Xuân Hy và các thành phần bộ phận liên hệ trực tiếp với Peace Trees VN) trong hai mùa hè vừa qua y thị vẫn sẵn sàng tiếp tay. [Chú thích: tên giáo sư Lê Xuân Hy đã dự tiệc đãi tên ĐS Lê Công Phụng buổi trưa ngày 14/10/2008 tại Washington Athletic Club].

Cũng như Kim Long/Hội Thân hữu và các hội bất vụ lợi, y thị không mắc cở trong việc châm bẩm làm cách nào bóc lột trong chiêu dụ khéo léo các thiện nguyện viên. Y thị chỉ lo kiếm xin tiền ngân quỹ cho cơ quan của mình bất kể chuyện thành phố và các nhóm đó có liên lạc làm việc với Việt Nam hay không. Điều quan trọng là y thị chỉ lộ diện tham gia công khai sau khi Phòng Thương Mại bị đưa ra ánh sáng (nhất là chuyện ký giao kèo của Phòng Thương Mại và tin Little Saigon Seattle được đăng trên báo Thanh Niên ở Việt Nam). Quý vị chắc đã thấy hình y thị chụp chung hình với TPhước Trọng, và một vài nhân vật thuộc Phòng Thương Mại và Luật Sư đoàn trong một buổi tối chiêu đãi để tiếp tục hoạt động hành lang (lobby) với nghị viên thành phố Jan Drago (cũng là cố vấn cho hội của Sơn Michael Phạm) tại nhà hàng Saigon Bistro vào ngày 9/30/2008 có đăng trên báo Người Việt Tây Bắc

Các bằng cớ đưa ra ở trên sẽ làm quý vị dễ hiểu hơn là tại sao y thị đã từ chối giúp đỡ cung cấp ghế ngồi cho sinh hoạt cộng đồng trong đêm Sân Khấu Ngoài Trời tổ chức ngay trước cơ quan mình. Minh Đức đang mơ tưởng được hưởng lợi “ké” thể theo bản giao kèo đã ký “bừa” giữa Quang Nguyễn và tập đoàn xây cất vào 27/8/2008. Y thị đâu ngờ giao kèo này vẫn còn bị thưa kiện rắc rối, và chắc gì đã có xơ múi nào. Không ngờ mọi chuyện chưa hề kết cuộc lại bị báo Bia Miệng chúng tôi bật mí!

Ngoài ra, Hà Nội và người Mỹ bản xứ trong guồng máy chính quyền cũng như các tập đoàn tư bản còn lợi dụng và xem những cá nhân nào như là công cụ nữa?

Đứng giữa là Sindy Nguyễn & Tâm Nguyễn/nhà hàng Tamarind Tree.  Sindy Nguyễn, người đang làm việc cho cơ quan Thành Phố Seattle trong bộ phận chuyên về các hợp đồng và ngân quỹ tài trợ.  Ngoài ra Sindy làm việc cố vấn cho hội Vietnam Scholarship Foundation của Tâm Nguyễn (Tamarind Tree), hoạt động chặt chẽ với hội của Sơn Michael Phạm và hội của Denny Điệp Đăng.

Đứng giữa là Sindy Nguyễn & Tâm Nguyễn/nhà hàng Tamarind Tree. Sindy Nguyễn, người đang làm việc cho cơ quan Thành Phố Seattle trong bộ phận chuyên về các hợp đồng và ngân quỹ tài trợ. Ngoài ra Sindy làm việc cố vấn cho hội Vietnam Scholarship Foundation của Tâm Nguyễn (Tamarind Tree), hoạt động chặt chẽ với hội của Sơn Michael Phạm và hội của Denny Điệp Đăng.

Sindy Nguyễn

Sindy Nguyễn, người đang làm việc cho cơ quan Thành Phố trong bộ phận chuyên về các hợp đồng và ngân quỹ tài trợ. Điều đáng chú ý về y thị là một trong những người rất đắc lực trong các công tác của Greater Seattle VN Association cũng như Viet Nam Scholarship Foundation (thành lập bởi Tâm Nguyễn/chủ nhà hàng Tamarind Tree từ năm 2000) và Peace Trees Vietnam. Mới đây vào ngày 5/9/2008 thì nhóm từ thiện dưới tên Vietnam Scholarship Foundation của Tâm Nguyễn (Tamarind Tree) cũng được sự giúp đỡ cố vấn của Sindy Nguyễn, cơ quan Greater Seattle Vietnam Association và trường đại học UW để có thể xử dụng nhà triễn lãm Burke (Burke Museum của trường ĐH UW) cho việc gây quỹ lần thứ tư. Họ đã gom được $30,000 đô la. Y thị cũng có nhận lời mời hợp tác với hội Vietnamese Heritage Association của Denny Điệp Đặng.

Từ Đặng Minh Trang

Người đáng đề cập nhất phải là Từ Đặng Minh Trang (hay Trang Từ). Cô ta là một người nằm trong thế hệ trẻ thứ hai lớn lên ở Mỹ cũng như Minh Đức, Sindy hay Sơn Michael Phạm. Y thị chỉ khôn ngoan tránh mặt các sinh hoạt cộng đồng. Cô này đang là cố vấn có nhận hợp đồng làm việc cho Thành Phố, nhất là cho văn phòng Phát Triển và Thiết kế đô thị (DPD). Ngoài ra, y thị đỡ đầu và huấn luyện cho thế hệ trẻ như Phượng Chi Nguyễn (Olympia) hay Quang Nguyễn của Phòng Thương Mại qua những chương trình chuyên về các kỹ năng lãnh đạo tại địa phương bảo trợ của người Nhật và Hoa. Trang Từ hiện làm việc với nhiều cơ quan khác nhau. Ngoài hợp đồng với hội Gates Foundation, y thị làm việc với NAVASA (National Alliance of Vietnamese American Service Agencies)—trụ sở chính ở miền Đông Hoa Kỳ. Y thị chuyên đào tạo các khóa về kỹ năng lãnh đạo cho thê’ hệ trẻ, nhất là các sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học. Sau các khóa đào tạo thì họ về các tiểu bang giữ chức giám đốc các hội vô vụ lợi hay không vụ lợi. Trang Từ cũng đã từng là hướng dẫn Vũ Lê, hiện đang là giám đốc của Hội Thân Hữu (Vietnamese Friendship Association) dưới sự chỉ đạo múa may của Nguyễn Kim Long. Vũ Lê (còn giữ chức vụ thành viên hội đồng quản trị của Vietnam Scholarship Foundation của Tâm Nguyễn/Tamarind Tree) thật ra chỉ là một trong rất nhiều trường hợp tiêu biểu của thế hệ trẻ.

Điều quan trọng nhất là Trang Từ trước đây làm việc cho thị trưởng Paul Schell từ năm 1998 đến 2001. Ông Schell ngoài ra còn là một nhà thầu xây cất (developer). Vào năm 1999 Schell là người đứng ra thành lập Greater Seattle Vietnam Association của Sơn Michael Phạm (cùng với ông James Wolfensohn, giám đốc của World Bank). Vì thế Từ Đặng Minh Trang là một trong những người có chân cột trụ trong việc xây dựng và hình thành Greater Seattle Vietnam Association. Hằng năm y thị đều tham gia buổi dạ tiệc gây quỹ của Sơn Michael Phạm. Chắc quý vị cũng hiểu điều này xảy ra thường xuyên trong lịch sử khi đề cập đến các nhân vật “Việt gian” ở VN. Nếu không đi lại trung thành với đám mạng lưới Thành Phố, tập đoàn xây cất, và bọn Tàu Nhật tài phiệt có tên tuổi chính trị, bọn đã ở đây vài thế hệ thì làm sao cô Trang có thể bành trướng hoạt động, được phong cho chức cố vấn về các vấn đề người Việt ở Seattle, và lãnh hợp đồng có tiền?

Cô Trang Từ--người ngồi ôm chiếc áo lạnh màu xanh dương--cố vấn cho cuộc họp ngày 22/10/2007 tổ chức bởi Phòng DPD và cơ quan VAEDA (Hiệp Hội Phát Triển Kinh Tế Người Mỹ gốc Việt) của Quang Nguyễn.  Cô Trang đã nhận tiền hợp đồng từ DPD/Thành Phố Seattle để thi hành việc thăm dò ý kiến người Việt tiểu thương trong khu vực LSG về những thiệt hại kinh tế và các ảnh hưởng xấu khác nếu luật tái phân vùng được chấp thuận. Bản báo cáo này có một số khuyết điểm lớn, nhất là kết luận.  Cô Ái Nguyễn (người đứng phát biểu cảm tưởng trong hình là một thành viên của Phòng Thương Mại) cũng tham dự buổi họp này. (Xin xem thêm hình cô Ái Nguyễn và Trần Đức phía dưới).

Cô Trang Từ--người ngồi ôm chiếc áo lạnh màu xanh dương--cố vấn cho cuộc họp ngày 22/10/2007 tổ chức bởi Phòng DPD và cơ quan VAEDA (Hiệp Hội Phát Triển Kinh Tế Người Mỹ gốc Việt) của Quang Nguyễn. Cô Trang đã nhận tiền hợp đồng từ DPD/Thành Phố Seattle để thi hành việc thăm dò ý kiến người Việt tiểu thương trong khu vực LSG về những thiệt hại kinh tế và các ảnh hưởng xấu khác nếu luật tái phân vùng được chấp thuận. Bản báo cáo này có một số khuyết điểm lớn, nhất là kết luận. Cô Ái Nguyễn (người đứng phát biểu cảm tưởng trong hình là một thành viên của Phòng Thương Mại) cũng tham dự buổi họp này. (Xin xem thêm hình cô Ái Nguyễn và Trần Đức phía dưới).

Từ tháng 10/2007 đến cuối tháng 5/2008, cô QT đã tiếp xúc và cố gắng thuyết phục Trang Từ–người có thể gây được ảnh hưởng với Quang Nguyễn thuộc Phòng Thương Mại.  Mỗi khi cô QT và anh Hiếu đề nghị đem vấn đề Little Saigon ra trình bày với tất cả mọi người trong cộng đồng để tìm một giải pháp ưng thuận chung vì là chuyện lớn thì Trang Từ miệng luôn nói là đồng ý. Cô ta công nhận những điều cô QT và anh Hiếu suy nghĩ và đề nghị là rất quan trọng.  Tuy nhiên, y thị chẳng chứng minh được bằng hành động–ngoại trừ ngồi họp với Quang Nguyễn hay với Tâm/nhà hàng Tamarind Tree qua một vài tiếng đồng hồ. Y thị dĩ nhiên là không muốn ra mặt tiếp xúc với cộng đồng vì có quan hệ chặt chẽ với Thành Phố và mạng lưới nuôi cái vòi ngàn dặm về tới VN. Cô QT cố gắng thuyết phục, tiếp tục hy vọng là với ảnh hưởng lớn của y thị lên “đám nhỏ đệ tử” thì chúng sẽ nghe lời và không làm điều quá tệ–nhất là việc đã coi thường cộng đồng người Việt quá nhiều và quá lâu. Nhưng rốt cuộc là cô Quynh-Trâm và anh Hiếu thất vọng.

Một bằng chứng là vào ngày 13/5/2008, sau khi cô QT mời cả Trang Từ và Tâm/nhà hàng Tamarind Tree đến họp ở nhà hàng Cây Trúc (lúc ấy được sắp xếp bởi ông Tăng Phước Trọng và chỉ có thành phần nằm trong ban chấp hành và nhân viên của VFA đến tham dự). Trang Từ đã im lặng, sau đó từ chối, và cho biết qua điện thư là cô sẽ đi dự đêm gây quỹ cho Greater Seattle Vietnam Association (của Gary Johnson và Michael Sơn Phạm) vào cùng ngày. Tuy nhiên, y thị sẵn sàng đi với Quang Nguyễn để hoạt động ở hành lang (lobby) thuyết phục nghị viên Richard Conlin tại Tòa Thị Sảnh vào ngày 29/5/2008 khoảng 4 giờ chiều.

Hai người đang đứng trong hình là Quang Nguyễn và Robert Scully—một nhân viên của Phòng Kế Hoạch và Phát Triển Đô Thị (Department of Planning and Development hay DPD).  Ông ta phụ trách phần thiết kế đường phố và không gian mở cho Little Saigon Seattle. Cuộc hội thoại duy nhất và không mang tính dân chủ vào ngày 22/10/2007 với thành phần đa số liên hệ với Quang Nguyễn, Trang Từ và Minh Đức.

Hai người đang đứng trong hình là Quang Nguyễn và Robert Scully—một nhân viên của Phòng Kế Hoạch và Phát Triển Đô Thị (Department of Planning and Development hay DPD). Ông ta phụ trách phần thiết kế đường phố và không gian mở cho Little Saigon Seattle. Cuộc hội thoại duy nhất và không mang tính dân chủ vào ngày 22/10/2007 với thành phần đa số liên hệ với Quang Nguyễn, Trang Từ và Minh Đức.

Trang Từ đã cùng Quang Nguyễn và vài tên tuổi liên lạc chặt chẻ với Phòng Thương Mại để xin xỏ Thành Phố sang sẻ cho ít nhất vài triệu trong tổng số tiền bán thí đường phố một khi khu siêu thị Dearborn được xây. Họ viện cớ tiền này nên được phê chuẩn và xác đáng để tạo dựng nhà văn hóa cho “cộng đồng” Việt (vấn đề nhà văn hóa có lợi cho ai hay thật sự chỉ là món hàng rao thì chúng tôi sẽ trở lại trong số báo kế tiếp.) Nói tóm lại, từ trước đến nay hành động của Trang Từ thường trái ngược với lời ở cửa miệng, ngay cả lời tuyên bố của y thị với báo chí Mỹ.

Chẳng hạn như lời của y thị với bà Allie Holly-Gottlieb, ký giả của báo The Stranger, trong số ngày 28/9-4/10/2000. Xin nhớ một năm trước đó tên Thị Trưởng Paul Schell đã quyết định cho Trang Từ (phụ tá “đặc biệt” ở văn phòng Strategic Planning Office) làm việc giúp “gầy dựng” VABDOSS–một tổ chức chuyên về thương mại lúc ấy đã lạm dụng danh xưng cộng đồng. Tổ chức này muốn được nhúng tay vào chuyện điều hành khoản tiền 50 triệu đô la bồi thường cho các thiệt hại cho người Việt và các cộng đồng thiểu số ở khu vực Martin Luther King. Khi bà này hỏi y thị nghĩ gì về chuyện người Việt chống đối việc y thị tiếp tay cho Thảo Trần thuộc Hiệp hội Phát Triển Thương Mại của người Mỹ gốc Việt tại Nam Seattle (hay Vietnamese American Business Development of South Seattle VABDOSS). Thảo Trần là một trong ba người lúc ấy đang bị mang danh là “tay sai” cho chính quyền Thành Phố trong đề án xe điện.

Trang Từ đã trả lời bà ký giả Holly-Gottlieb, báo The Stranger, rằng y thị sẽ “giúp bất cứ nhóm nào trong cộng đồng cần được giúp đỡ” (“do the same for any community group that needs help.”). Y thị chối chuyện móc nối giữa hội VABDOSS này và chính quyền thành phố. Để chống đỡ cho VABDOSS của Thảo Trần và Trần Trung Hiếu y thị đã ngụy biện rằng vì cộng đồng Việt không có cơ quan tổ chức nào cả. Đây là điều chỉ đúng có phân nửa.

Đúng phân nửa là vì luận điệu mơ hồ và chống chế mà không dựa trên một nền tảng đạo đức vững chắc nhưng vẫn làm cho người nghe nghĩ là y thị hết lòng và tốt bụng. Khi cần phải tranh giành ngân quỹ cho các nhóm thông đồng thì y thị sẵn sàng đứng chung và xưng danh tranh đấu lạm dụng chữ “cộng đồng”. Khi nào phải đối thoại với các chất vấn của báo chí, hay những cá nhân không nằm trong mạng lưới nuôi cái vòi ngàn dặm thì lại trả lời rằng y thị lúc nào cũng giúp, và giúp “bất cứ” nhóm nào trong cộng đồng. Như vậy có nghĩa là như thế nào? Y thị sẵn sàng làm việc cho nhóm (dĩ nhiên là nhóm phải có tên tuổi) thậm chí nếu nhóm đó tự tung tự tác qua mặt đám đông thầm lặng, bị mua chuộc, mị dân, hay bị bưng bít và không có tiếng nói hay sao?

Điều y thị phát biểu với báo chí Mỹ chỉ đúng phân nửa vì các kế hoạch Thành Phố trước đây cũng như hiện tại là không có trách nhiệm với tất cả công dân. Sau khi được bầu bán, các thị trưởng và Hội Đồng Thành Phố Seattle luôn nhắm vào nhược điểm của các cộng đồng thiểu số để thi hành các kế hoạch có lợi trước tiên cho người Mỹ giàu có, rồi đến các mạng lưới to miệng “vòi sữa” trong các hoạt động hành lang, và các nhóm tay sai muốn chút “nước béo”.

Y thị miệng thì nói giúp tất cả, nhưng tay chân thì chỉ lựa chọn gạn lọc chỉ giúp cho các nhóm nằm trong mạng lưới có thế lực và quen biết với y thị, hầu củng cố quyền lợi riêng của mình. Y thị thật sự đâu có tranh đấu cho người nghèo không có tiếng nói, hay chưa biết làm thế nào để thực thi quyền công dân của mình! Các hoạt động của y thị từ đề án xe điện ở Martin Luther King (vùng phía nam của Seattle) từ năm 1999 cho đến ba kế hoạch liên hệ đến Little Saigon (ở khu International District/ Downtown Seattle) hiện tại là có lợi cho ai? Chúng tôi tin quý vị đã có thể tự phân tích và tự kết luận được rồi khi đã có trong tay số dữ kiện này.

Tâm Nguyễn/Nhà Hàng Tamarind Tree

Xin trở lại nhân vật Tâm Nguyễn/Tamarind Tree được mời đi họp cùng với Trang Từ. Y cũng lấy cớ thối thoát với cô QT là phải đi sang Vancouver để không đến dự họp cộng đồng ở nhà hàng Cây Trúc vào ngày 13/5/2008. Từ ban đầu khi chuyện Little Saigon bắt đầu lộ diện, Tâm Nguyễn/nhà hàng Tamarind Tree là người “môi giới” bắt cầu cho phòng Thương Mại. Tâm Nguyễn đã viết thư mời cô QT đi họp riêng với Phòng Thương Mại lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 5, 2008. Thật ra từ tháng 10/2007 Tâm Nguyễn đã biết việc cô QT đứng lên phản đối trực tiếp cách thức làm việc không dân chủ và kỳ thị của Thành Phố, nhất là vấn đề văn phòng DPD chỉ liên lạc với cơ quan của Quang Nguyễn. Tâm Nguyễn là nhân vật biết rất rõ các hoạt động và đề án liên hệ đến Little Saigon. Y đã từng là người đầu tiên và duy nhất được văn phòng DPD và Phòng Thương Mại của Quang Nguyễn mời tham dự các cuộc họp về mặt thiết kế đô thị đường xá của Little Saigon vào ngày 22/3/2006.

Tâm Nguyễn (chủ nhà hàng Tamarind Tree & nhà hàng Long, và là sáng lập viên hội Viet Nam Scholarship Foundation) cùng các thành viên trong ban Quản Trị:  Gwen (Uyên) Vũ, Joe, Mỹ-Linh Vân, Tyler Lộc, Vũ Lê (giám đốc Vietnamese Friendship Association của Kim Long), Paul Tamura, và Anh Trần.

Tâm Nguyễn (chủ nhà hàng Tamarind Tree & nhà hàng Long, và là sáng lập viên hội Viet Nam Scholarship Foundation) cùng các thành viên trong ban Quản Trị: Gwen (Uyên) Vũ, Joe, Mỹ-Linh Vân, Tyler Lộc, Vũ Lê (giám đốc Vietnamese Friendship Association của Kim Long), Paul Tamura, và Anh Trần.

Tuy nhiên, y ứng xử như thể không biết và hành động như thể là không có tham gia. Phòng Thương Mại và y đã làm lơ các phản kháng trong cách làm việc DPD không dân chủ và mờ ám. Y chỉ lãnh nhận vai trò trung gian (tạo cảm tưởng là “trung lập”) khi biết cô QT đã thông báo khắp nơi về vấn đề hệ trọng này trong cộng đồng. Tâm Nguyễn đã mời cô đi họp với Phòng Thương Mại khi biết cô QT đã có mặt tại tòa thị sảnh của Seattle từ 9 giờ sáng cho đến 12 giờ trưa ngày 1/5/2008 để: (1) lên tiếng phản đối chuyện cơ quan DPD và Phòng Thương Mại đã coi thường cộng đồng Việt; (2) không tạo cơ hội cho mọi người được quyền tham gia đóng góp ý kiến mà chỉ làm qua loa để thực hiện các ý định đã vạch sẵn; và (3) làm lơ chuyện phản đối này từ ngày 30/8/2007 tức là chín tháng tổng cộng chứ không phải chỉ có ngày một ngày hai.

Ngay đêm đầu tiên của ngày 1/5/2008 đó—tức là lần gặp mặt nhóm với Quang, Tâm và Trang Từ, cô QT đã nghe họ liệt kê là Sơn Michael Phạm, Trần Đức và Trí Võ (Triway Enterprises ở Olympia) là những người chính thức nằm trong hội đồng quản trị của phòng Thương Mại (WAVA

Vào ngày 6/11/2008, Tâm Nguyễn/Tamarind Tree cũng đã áp lực cô QT trước khi vào cuộc họp với văn phòng DPD về thiết kế đường xá cho Little Saigon. Y bảo cô QT phải chấp nhận giải pháp “nhà văn hóa” mà Phòng Thương Mại đang tìm cách cò mồi với nghị viên thành phố nếu muốn được bảo trợ thực phẩm ủng hộ cho đêm Sân Khấu Ngoài Trời hai ngày sau đó. Cô QT nhất định cương quyết từ chối, và không khuất phục áp lực này. Cô cho rằng “không thể chấp nhận cho một nhóm như Phòng Thương Mại có quyền tự tung tự tác lạm dụng danh xưng cộng đồng để lấy một cái bánh vẽ nhà văn hóa, hoặc làm chuyện mờ ám chỉ có lợi cho một nhóm thế lực nào đó”. Khi thấy chẳng thể áp lực được cô QT mà lại sợ nhà hàng mình làm ăn không thuận lợi, y đã nhường bước và không nuốt lời hứa. Tuy nhiên trong đêm biểu diễn, y đã sấn tới trước mặt buộc vị giáo sư nữ thuộc trường ĐH UW phải trả lời ngay câu hỏi lập đi lập lại của y là “Ai đứng đằng sau của tổ chức đêm nay?” Bà này là người cố vấn và làm việc ở trường ĐH với cô QT; bà (cùng một số giáo sư khác thuộc các phân khoa khác nhau khi biết về chuyện này thì) rất ủng hộ đêm Sân Khấu Ngoài Trời và vở cải lương trích đoạn Tiếng Trống Mê Linh là phương tiện cho kẻ gióng trống khi thấy có chuyện mờ ám và biết làng xóm lâm nguy.

Nói tóm lại, Tâm Nguyễn/chủ nhà hàng Tamarind Tree là người liên lạc chặt chẽ với Phòng Thương Mại. Vì nếu không thì làm gì có chuyện được lộc hưởng (từ móc nối của nhiều cá nhân có máu mặt thuộc hội Greater Seattle VN Association mà chúng tôi đã liệt kê ở trên) có lợi cho hội từ thiện học bổng mà y lập ra cho học sinh VN? Điều đáng ghi nhận là y còn được Phòng Thương Mại chỉ vẽ làm thế nào để có thể hưởng tiền ngân quỹ công cộng của Thành phố Seattle khoảng độ $20,000 để xây thác nước nhân tạo trước nhà hàng của y. Quý vị có nhớ đến trường hợp tương tự về Tổ chức “Tết in Seattle” của Kiệt Lý mà chúng tôi đã đề cập trong số báo trước đây? Ai đọc tới đoạn này thì nhận ra là các tổ chức và cá nhân nào không nằm trong mạng lưới này thì không cách chi có thể nhận được “viện trợ” lớn như vậy để trùng tu cửa tiệm hay chấn chỉnh hội đoàn mình? Công lý hay công bằng xã hội nằm ở chỗ nào đây? Có phải vì thế mà cộng đồng Việt Seattle đã ra chiều lũng đoạn trầm trọng mở đường cho nghị quyết 36 thành công?

TẠM KẾT

Chúng tôi xin kết thúc bài này với hai điều suy nghĩ sau đây: Lời chia xẻ thứ nhất: ý định của chúng tôi trong việc liệt kê các thành phần trong bài này là gì? Xét rằng chuyện như “sét đánh ngang tai” đáng đề cập quan trọng như thế này mà đã bị báo chí (lấy quảng cáo) cố ý đồng lõa và chôn vùi là điều xúc phạm (không thể bào chữa được) đến sự quan tâm về chuyện xây dựng cộng đồng của quý vị độc giả và cộng đồng Việt Seattle nói chung. Hơn nữa, chúng tôi liệt kê danh sách của mạng lưới này để quý vị hiểu tại sao bằng cách nào Sơn Michael Phạm, Trần Đức và đồng bọn hợm hĩnh, và ứng xử coi thường cộng đồng Việt. Điều đó không có nghĩa là chúng ta phải sợ hãi hay đầu hàng. Báo Bia Miệng vẽ và chỉ điểm mạng lưới này để mạng lưới này không dám làm chuyện “chìm xuồng” một lần nữa, và không thể hoành hành nuôi cái vòi ngàn dặm. Họ không có quyền và không thể tiếp tục chiêu dụ, mập mờ đánh lận con đen, hay mị dân. Họ không thể đem cộng đồng Việt ra tế thần cho mục đích riêng của họ.

Chúng tôi đưa ra bằng chứng để tiếp tục kêu gọi quý vị, nhất là các tiểu thương trong khu Little Saigon, không nên bị mắc mưu vì “chịu ơn”, nghe lời ngon ngọt xúi dục phỉnh gạt của chúng. Cũng đừng để bị lôi kéo tưởng rằng mình yếu thế, không còn đối tác kịp thời, hoặc thụ động làm ngơ để chúng tung hoành. Vì không có gì là quá trể!

Xin nhớ họ chỉ là một nhóm rất nhỏ mà thôi! Họ chỉ là một mạng lưới không xem chuyện đạo đức và có lý có tình là quan trọng! Quý vị nên để ý năm nay là năm bầu cử. Thị trưởng hay nghị viên thành phố thì cũng có thể bị truất phế nếu chúng ta có sự đoàn kết đồng lòng trong các kiến nghị, và nhất là biểu hiện sức mạnh tập thể qua lá phiếu của chúng ta. Quý vị chắc vẫn còn nhớ chuyện nghị viên Madison Nguyễn ở San Jose đang run sợ sự nghiệp chính trị của y thị sẽ đi vào quên lãng? Madison phải đối diện với chuyện bãi nhiệm vì láo khoét coi thường đồng hương (sau khi lấy một tên du học sinh và mua nhà ở trên đồi) trong lúc thông đồng với tập đoàn thương gia người Hoa và đám Nguyễn Xuân Ngãi có liên hệ chặt chẽ với CSVN. Nếu chúng ta mở mắt, nhất định không a dua, và hợp sức thì tất nhiên kết quả sẽ khả quan–thuận lòng người, và thuận hồn nước.

Xin nhớ Phòng Thương Mại và đồng bọn đang rao tin giả là “gạo đã thành cơm” vì đã ký kết. Thật ra kết cuộc là Phòng Thương Mại đã thất bại sau khi ký bừa giao kèo để dọn đường cho tên ĐS Lê Công Phụng có mặt ở Seattle và PeaceTrees VN tiếp tục chiêu dụ đám trẻ. Thật ra tập đoàn xây cất Ravenhurst đã méo mặt méo miệng vì phải đứng trước áp lực khủng hoảng kinh tế toàn quốc đã dẫn đến suy thoái cả toàn cầu. Trên trang nhà Internet hiện nay của tập đoàn xây cất Ravenhurst này, họ đã gỡ tên đề án khu siêu thị Dearborn ra khỏi số danh sách những đề án của họ chỉ ngụy danh là “phát triển đô thị”. Phát triển cho ai và loại bỏ ai? Hơn thế nữa, các nghị viên thành phố đã xét duyệt đơn thưa kiện và những bản tố cáo mạnh mẽ liên hệ đến đề án bất chính này. Thật ra áp lực chính trị từ nhiều nhóm đoàn trước ngày xét về Tiền Bán Thí Đường Phố của Hội Đồng Thành Phố nên nhà thầu Ravenhurst đã hủy bỏ đề án Dearborn vào ngày 24/4/2009

Lời nhắn nhủ kế tiếp xin gởi riêng đến quý độc giả thuộc cộng đồng Công Giáo địa phận Seattle:  Nếu quý vị nào đọc bài viết này thấy bất nhẫn khi nhận ra một vài nhóm trong cộng đồng công giáo đã liên hệ mật thiết với Michael Sơn Phạm hơn tám năm nay thì nên lên tiếng phản kháng tẩy chay họ ngay. Cần vạch trần nhóm “sâu làm rầu nồi canh” để mọi người biết—chúng tôi xin nhấn mạnh là mọi người chứ không chỉ những ai thuộc cộng đồng Công giáo. Cần phải chống đối mạnh mẽ triệt để kẻ hay thành phần ham danh ham lợi đã lạm dụng danh nghĩa của cả một cộng đồng công giáo như cộng đồng địa phận Seattle. Đừng để mắc mưu kẻ đạo đức giả. Thiết nghĩ đây là một cộng đồng công giáo Việt đã trải qua kinh nghiệm đau thương từ năm 1954, và lập tức tìm mọi cách bỏ xứ ra đi năm 1975 tránh tội ác của Cộng Sản và định cư trực tiếp và đầu tiên ở Seattle. Quý vị lẽ nào quên tinh thần các thánh tử đạo La Vang đã hy sinh cả bản thân để đấu tranh cho lẽ phải? Chẳng lẽ quý vị chịu bó tay sau khi biết mình đã bị lường gạt, lòng tin mình đã bị phản bội không phải một sớm một chiều?

Không có gì là quá trể! Chúng tôi xin mượn lời ông bà ta đã nói từ nghìn xưa: “Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Ba cây này phải nhất quyết không từ các nhóm “tứ nhân ban”! Hãy noi gương cộng đồng San Jose và cộng đồng công giáo ở New Orleans, Louisana! Hãy hợp sức chữa cháy cho cả làng xóm (chứ không chỉ cá nhân mình) và xây dựng cộng đồng! Hãy hợp lực đấu tranh thực thi quyền công dân để chính quyền và các “tứ nhân ban” không dám coi thường cười mỉa!

Nếu muốn biết rõ chi tiết ai được coi là các “tứ nhân ban” trong và ngoài cộng đồng xin quý vị đón đọc số báo kế tiếp!

Chú thích (Bằng Chứng Liên hệ)

Chúng tôi xin thông báo cho quý vị biết là trang nhà Internet của hội Greater Seattle VN Association của Sơn Michael Phạm đã ngưng hoạt động.  Điều này chỉ xảy ra từ ngày Báo Bia Miệng ra tin tức về chuyện Little Saigon. Tuy nhiên, tên của Sơn Michael Phạm và hoạt động của cơ quan Greater Seattle VN Association được tiết lộ từ nhiều thành phần qua các bằng chứng sau đây:

Trích lời báo Phương Đông Times:  “Ban Biên tập Phương Đông Times cùng góp bàn tay với Ban tổ chức (từ trái sang phải): Chủ nhiệm/chủ bút Phương Đông Times Võ Thành Đông, Cô Tim Aline Rebeaud, Ký giả Nguyễn Tấn Lai, Nhà báo & thi sĩ Linh Vũ, Cô Nguyễn Đặng Ái và doanh gia Trần Đức.”

Trích lời báo Phương Đông Times: “Ban Biên tập Phương Đông Times cùng góp bàn tay với Ban tổ chức (từ trái sang phải): Chủ nhiệm/chủ bút Phương Đông Times Võ Thành Đông, Cô Tim Aline Rebeaud, Ký giả Nguyễn Tấn Lai, Nhà báo & thi sĩ Linh Vũ, Cô Nguyễn Đặng Ái và doanh gia Trần Đức.”

1. Từ tên Võ Thành Đông, chủ nhiệm tờ Phương Đông Times, tiết lộ trước mặt cô QT, anh Hiếu, TPTrọng, Nguyễn Tấn Lai, và Linh Vũ vào ngày 29 tháng 6, 2008, vào khoảng 4 giờ chiều tại nhà hàng Minh của bà Dung rằng:  Sau khi thành lập phòng Thương Mại vào đầu năm 2008, Sơn Michael Phạm và Quang Nguyễn đã đến viếng tòa soạn của y và mời y vào giữ một chân trong Hội đồng quản trị. Khi y hỏi về việc làm sao đương đầu với cộng đồng Việt Seattle khi đem phái đoàn CSVN sang viếng thăm, nhất là để tạo các mối làm ăn giao dịch quốc tế với Phòng Thương Mại. Sơn Michael Phạm và Quang Nguyễn đã đáp liền lập tức rằng chúng tôi sẽ không làm và để cho người Mỹ bản xứ thay mặt đi đưa đón các “đại biểu” đó. Võ Thành Đông nói là đã có chụp hình hai tên này trong buổi viếng thăm y. Có nghĩa là y biết tất cả đường đi nước bước của nhóm này nhưng đồng lõa không lên tiếng, nhận tiền của Phòng Thương Mại–nhất là Trần Đức, và làm lơ lời kêu gọi hội họp để bảo tồn khu văn hóa Little Saigon.

2. Từ ông TPTrọng lần đầu tiên tại nhà hàng Jumbo vào ngày 1/3/2008. Trong thời gian đi tìm nghệ sĩ cải lưong cho đề án khóa học mùa xuân của UW, cô QT được chị Thu, đối ngoại tại chùa Vạn Hạnh, khuyên nên gọi điện thoại liên lạc với các tòa soạn để lấy tin. Khi gọi cho NVTây Bắc, Phạm Kim chỉ giới thiệu hai nhân vật mà thôi: TPTrọng và Kim Long. Vào ngày 1/3/2008, vợ chồng TPTrọng muốn cô QT đến gặp họ lần đầu tiên tại nhà hàng Jumbo. Hôm ấy là nhân vào dịp họ dự họp mặt của nhóm Quân Nhân Thủ Đức.

Trong thời gian đầu tiếp xúc cô QT chỉ biết TPTrọng, và chưa am hiểu tình hình trong cộng đồng–không biết về những người và nhóm khác cùng các lắc léo chia rẽ phức tạp. Vào trưa chủ nhật 11/6/08, cô QT điện thoại có gọi cho TPTrọng để hỏi y có thể hô hào triệu tập một cuộc họp cộng đồng vào tối thứ ba 13/6/2008. Y nói được. Sau đó, cô QT hỏi tiếp là có người cho cô biết rằng y ưng thuận và ủng hộ lập trường của tập đoàn xây cất. Cô hỏi có phải đúng như thế không. Trọng bảo thật ra y làm như vậy để tạo “leverage” (gây tác dụng) thôi! Và xem ra y biết rất rõ lịch sử và thành phần nào đối lập với nhau trong vấn đề khu Dearborn/Goodwill. Chẳng hạn y biết các gia đình người đại hàn nào ủng hộ đề án siêu thị của tập đoàn xây cất.

Tăng Phước Trọng, chủ tịch một hội tư "Cộng đồng Người Việt Tiểu Bang Washington", đã tiếm danh cộng đồng và thề trong buổi điều trần của Thành Phố Seattle vào ngày 22/9/2008 là ủng hộ Phòng Thương Mại thân cộng và không chống tập đoàn xây cất Ravenhurst.

Tăng Phước Trọng, chủ tịch một hội tư "Cộng đồng Người Việt Tiểu Bang Washington", đã tiếm danh cộng đồng và thề trong buổi điều trần của Thành Phố Seattle vào ngày 22/9/2008 là ủng hộ Phòng Thương Mại thân cộng và không chống tập đoàn xây cất Ravenhurst.

TPTrọng tiết lộ rằng vấn đề Greater Seattle VN Association là chuyện quan trọng và có liên hệ đến VN và phòng Thương Mại. Tuy nhiên, TPTrọng đã thay đổi ý kiến này và hành động ngược lại, nhất là sau khi Thái Nhật Lĩnh tiết lộ số tài khoảng hấp dẫn gần 20 triệu của Rainier Economic Development Fund. Đây là khoảng ngân quỹ bồi thường cho đề án xe điện ở khu Nam Seattle trên đường MLK. Thái N Lĩnh đã thuyết phục thành công Kim Long/chủ tịch Hội Thân Hữu, Phạm Kim, và TPTrọng để lơ đi chuyện Little Saigon, và đứng cùng một phía hợp tác.

TPTrọng chính thức làm ngơ không còn muốn tham gia vào công tác cộng đồng ủng hộ cô QT và anh Hiếu là vào cuối tháng 7, 2008. Đây là khoảng thời gian cô QT và anh Hiếu đang vận động và cần liệt kê tất cả các chữ ký ủng hộ của các hội đoàn vào trong bản kiến nghị gởi đến DPD. Bản kiến nghị được thảo ra để chống đối chánh sách và cách thức làm việc không hề tiếp cận với cộng đồng Việt về đề án Livable South Downtown Initiative.

TPTrọng đã không trả lời rõ ràng về việc này. Y do dự nhưng không trả lời dứt khoát là không muốn đứng chung cùng một danh sách. Tuy nhiên TPTrọng tự động tiết lộ vấn đề y muốn hợp tác với Lĩnh. TPTrọng còn bảo rằng vùng miền Nam Seattle thì có nhiều ngân quỹ để tham gia hoạt động hơn. Nói tóm lại là y lừng khừng mập mờ không nói dứt khoát là rút tên hay đồng ý ủng hộ.

Thật ra nhóm bộ ba này chỉ ham tiền mà thôi. Ngay từ đầu khi mới gặp thì ông ta đã dụ cô QT là nếu vào hội của ông, ông sẽ chỉ đường để lấy ngân quỹ lớn không những từ Seattle mà còn từ Olympia. Cô QT từ chối các hứa hẹn hảo này vì đó không phải là mục tiêu đấu tranh. (Chú thích: Cô QT cũng đã nhiều lần từ chối các mua chuộc khác ngay cả những hứa hẹn tiền bạc hay địa vị mà các cơ quan DPD và Phòng Cư Khu (Department of Neighborhoods) của Thành Phố đã tìm cách mồi chài]. Kết quả là sau khi bản nộp kiến nghị đã đưa vào cơ quan DPD được 2 ngày thì ông ta lúng túng và xin yêu cầu sữa chữa để xử dụng một địa chỉ điện thư khác của vợ ông ta.

Nguyễn Huỳnh

SoDoNGOAIVI

%d bloggers like this: