VỢ CỦA BILLGATE SỐNG NHƯ THẾ NÀO?

 

Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền

 Là vợ của người đàn ông giàu nhất hành tinh nhưng Melinda không mấy quan tâm đến những cửa hàng thời trang sang trọng, những loại mỹ phẩm đắt tiền hay những tác phẩm nghệ thuật danh giá. Thay vào đó, suốt ngày bà chúi mũi vào những chuyện đại loại như… chu trình sống của con muỗi. Một người phụ nữ hơi bất thường chăng?
Ngay sau khi cưới nhau, vợ chồng Bill Gates bắt đầu làm từ thiện nhưng làm một cách dè dặt, trong đó có lần tặng máy vi tính xách tay cho các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (Phi châu).
Nhưng rồi hai người nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại cái chết hơn là phần mềm Windows xa xỉ. Thế là họ tậu bao nhiêu là sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh…
“Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền”,
Melinda nói.
“Tại sao lại phải nhọc công đến thế? ”
Melinda có thể tận hưởng một cuộc sống trong nhung lụa, dành thời gian chăm sóc con cái.
“Khi cưới nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác.. Lần đầu tiên chúng tôi đến châu Phi là nhân một chuyến đi săn năm 1993.
Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đất, phụ nữ phải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số và bởi lời mời từ một bộ lạc về việc dự buổi lễ cắt âm vật phụ nữ.
Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc Báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được tiêm vắc-xin.
Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật và càng tìm hiểu, chúng tôi càng thấy không thể chờ vì bệnh tật không đợi chúng tôi. Tôi đi vòng quanh thế giới để xem điều gì đang xảy ra.
Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp đến độ tôi không dám hy vọng. Nhưng rồi bạn thấy đó, kinh tế đang thay da đổi thịt ở các nước phát triển và tự nó cải thiện mọi chuyện. Điều đó đã vực Bill và tôi dậy”.
“Chúng ta có xem rẻ mạng sống của người Phi châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động”
Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi chính thức khai trương vào năm 2000. Vợ chồng Gates đã cam kết sẽ trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (hiện ước tính khoảng 46 tỉ USD). Vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em là mục tiêu chính của quỹ.
Đến nay BMGF đã chi tổng cộng 28,8 tỉ USD. Hồi đầu năm, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD – một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử.
Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi…

Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia.
Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo lắng:
“Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sản, chúng tôi đều nói đến trách nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của chúng.
Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy mà phải đợi đến những dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền”.
Hiệp hội Bill & Melinda Gates đã chi bao nhiêu cho ai?
Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tế, từ thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho không đến 38% tổng tài sản của mình.
9,3 tỷ USD là tổng số tiền mà tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates đã chi cho các công cuộc từ thiện cứu tế và giáo dục thông qua hiệp hội mang họ tên mình thành lập vào năm 2000.

Chúng được chia ra như sau:

– Sức khoẻ: 5,4 tỷ USD (gồm chi An lược sức khoẻ toàn cầu, 2,3 tỷ USD nghiên cứu trị HIV/AIDS, bệnh lao và y tế sinh sản, 1,5 tỷ USD; các bệnh lây lan khác, 1,1 tỷ USD; nghiên cứu phát triển công nghệ y tế toàn cầu, 0,4 tỷ USD; nghiên cứu y tế, chiến dịch y tế toàn cầu…, 0,1 tỷ USD)
– Giáo dục: 2,4 tỷ USD
– Chương trình xây dựng thư viện toàn cầu: 0,3 tỷ USD
– Những dự án đặc biệt khác: 0,6 tỷ USD
– Các chương trình từ thiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương: 0,6 tỷ USD.

Advertisements

VÌ SAO NGƯỜI DO THÁI THÔNG MINH

Why Jews are intelligent ?

” Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này”. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không? Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam. Bài viết dưới đây được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là “Why Jews Are Intelligent” (tạm dịch là “Vì sao người Do Thái thông minh”). Bài viết rất hay và có ý nghĩa. Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ TB của người Do Thái vào khoảng từ 107,5 đến 115 (sd15). Để so sánh thì IQ TB của thế giới là 100 và IQ của người Việt Nam (theo một khảo sát) là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này. Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ “thiên tài” (IQ>=140 – cũng là mức yêu cầu của VNHIQ) trong số dân. Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ “thiên tài” sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài).Sau đây là bài dịch tác giả Thanh Hằng: “Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Do Thái. Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới – số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái. Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống. Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học đại học Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao”. Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác). Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác. Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel, điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậy nó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra. Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân (almonds), chà là (dates) cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá. Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể. Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân. Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường. Ở Israel, hút thuốc là điều cấm kỵ. Nếu bạn là khách thì không nên hút thuốc trong nhà họ, họ sẽ lịch sự mời bạn ra ngoài để hút thuốc. Theo các nhà khoa học ở đại học Israel, chất nicotine sẽ phá hủy những tế bào cơ bản trong cơ thể đồng thời ảnh hưởng đến gen và DNA (tế bào di truyền) dẫn đến sự thoái hóa bộ não. Đồ ăn cho trẻ cũng luôn trong sự hướng dẫn của cha mẹ. Đầu tiên, hoa quả ăn cùng với hạnh nhân, sau đó là dầu gan cá. Theo đánh giá của tôi, những đứa trẻ Do Thái đều biết 3 thứ tiếng, ví dụ như tiếng Do Thái, Ả rập và tiếng Anh. Từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được học đàn piano và violin, và đây là điều bắt buộc. Làm như vậy vì họ tin rằng điều này sẽ làm tăng chỉ số thông minh của trẻ và sẽ khiến con họ trở nên thông minh. Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái… Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em được dạy các môn về kinh doanh, toán học, khoa học. Để so sánh , tôi có thể nhận thấy trẻ em ở California, chỉ số IQ của chúng khoảng 6 năm về trước. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác. Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học. Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái. Thiết kế mẫu thời trang mới nhất của Levis là của khoa kinh doanh và thời trang của trường đại học Israel. Đã bao giờ bạn thấy họ cầu nguyện chưa? Họ sẽ luôn lắc đầu vì họ tin rằng hành động này sẽ kích thích và cung cấp nhiều oxy cho não. Điều tương tự giống như người Hồi giáo khi cầu nguyện họ phải quỳ lạy cúi đầu. Và hãy xem những người Nhật Bản, cách họ cúi đầu và người Nhật Bản cũng có rất nhiều người thông minh, họ thích ăn sushi (thịt cá tươi). Liệu đây có phải là sự trùng hợp? Trung tâm thương mại của người Do Thái tập trung ở thành phố New York, và chỉ phục vụ cho người Do Thái. Nếu ai đó trong cộng đồng Do Thái có ý tưởng hay có thể sinh lời, hội đồng người Do Thái sẽ cung cấp khoản vay không lãi suất và đảm bảo việc kinh doanh này phải phát triển. Vì lý do này, Starbuck, Dell, Coca-Cola, DKNY, Oracle, Levis, Dunkin Donut, các bộ phim Hollywood và hàng trăm hoạt động kinh doanh khác đều nằm dưới sự tài trợ của cộng đồng Do Thái. Sinh viên Do Thái tốt nghiệp từ khoa y dược ở New York được khuyến khích đăng ký với hội đồng này và được phép hành nghề tư với khoản vay không lãi suất này. Hút thuốc sẽ khiến bộ não bị thoái hóa. Trong chuyến thăm của tôi đến Singapore năm 2005, điều khiến tôi ngạc nhiên là những người hút thuốc bị coi như đồ bỏ đi và giá một bao thuốc là khoảng 7 USD. Cũng giống như ở Israel, việc hút thuốc là cấm kỵ và Singapore đã hình thành cách quản lý giống như ở Israel. Đây cũng là lý do vì sao hầu hết các trường đại học của Singapore đều thuộc đẳng cấp cao, dù Singapore chỉ nhỏ bằng Mahattan. Hãy nhìn sang Indonesia, đâu đâu mọi người cũng hút thuốc và giá một bao thuốc chỉ rẻ bèo khoảng 70 xu USD. Và bạn có thể đếm được số trường đại học của họ, những gì họ sản xuất, những gì họ có thể tự hào, công nghệ ư? Họ còn chẳng thể nói được thứ ngôn ngữ nào ngoài ngôn ngữ của mình, vì sao họ khó có thể sử dụng tiếng Anh thành thạo? Liệu đây có phải là do việc hút thuốc? Bạn hãy tự suy nghĩ nhé. Trong bài nay tôi không động chạm đến vấn đề tôn giáo hay chủng tộc. Đó là vì sao người Do Thái khá kiêu ngạo, và vì sao họ luôn bị săn đuổi từ thời Paraoh cho đến Hitler. Đối với tôi đó là vấn đề về chính trị và sự tồn vong. Điểm cuối cùng trong bài này là liệu chúng ta có thể tạo ra những thế hệ giống như những người Do Thái? Câu trả lời có thể ở dạng khằng định đó là chúng ta cần thay đổi thói quen ăn uống hàng ngày, cách làm cha mẹ, và tôi đoán rằng chỉ trong 3 thế hệ, việc này có thể làm được. Điều này tôi có thể quan sát được từ đứa cháu của tôi. Chỉ mới 9 tuổi cậu đã viết được bài luận 5 trang về đề tài ‘Vì sao tôi thích cà chua?’. Cầu chúc cho chúng ta được sống yên bình và thành công trong việc tạo ra những thế hệ tương lai tài giỏi cho nhân loại dù bạn thuộc bất kỳ chủng tộc nào. Bổ sung: Theo truyền thống người Do Thái, những học giả, nhà khoa học được khuyến khích kết hôn với con gái của những thương nhân vì theo họ, con cái sinh ra sẽ là sự kết hợp của cả giáo dục hàn lâm và giáo dục thực tế. Chính sự coi trọng thương nhân và kinh doanh cũng như học vấn đã đưa họ lên vị trí hàng đầu trên thế giới và khiến cả thế giới ngả mũ cúi đầu. (khác hẳn với văn hóa ‘sỹ, nông, công, thương’ của VN và Châu Á). Những chính sách của Hoa Kỳ trước đây và của Obama hiện tại cũng đều chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tài phiệt người Do Thái.”

Thanh Hằng

HIỆN TƯỢNG SIÊU MẶT TRĂNG

 

Thế giới xôn xao về hiện tượng ‘siêu mặt trăng’

Cộng đồng mạng khắp toàn cầu đang xôn xao về mối liên quan giữa hiện tượng “siêu mặt trăng” sẽ xảy ra vào ngày 19/3 tới đây với trận siêu động đất 8,9 độ richter tại Nhật Bản chiều 11/3.

Ngày 19/3, Mặt trăng sẽ xoay quanh Trái đất gần hơn trong 18 năm qua, với khoảng cách 356.577km. Các nhà khoa học cho rằng, khi trở nên “siêu cực lớn”, Mặt trăng có thể gây nên nhiều biến động cho Trái đất như bão lớn, động đất, núi lửa và những thảm họa thiên nhiên tàn khốc.

 Dựa trên những dự đoán này, cư dân trên toàn cầu đang đồn rằng, trận siêu động đất vừa xảy ra ở miền bắc Nhật Bản chiều 11/3 là hậu quả của việc Mặt trăng đang tiến gần đến Trái đất.

Nhà chiêm tinh học Richard Nolle, người điều hành trang web astropro.com, cho biết, vào thời điểm đó, Mặt trăng sẽ tròn hơn, to hơn và chiếu sáng hơn bất kỳ lúc nào và hiện tượng này được gọi là “siêu mặt trăng”.

Trong khi đó, Blogger có tên là Daniel Vogler đã viết trên trang web thời tiết AccuWeather cho biết, trong lần xuất hiện “siêu mặt trăng” vào ngày 10/1/2005, đó cũng là thời điểm xảy ra trận động đất mạnh 9.0 độ richter ở Indonesia.

Tuy nhiên, giáo sư George Helffrich, nhà địa chấn học tại Đại học Bristol, Anh cho rằng, Mặt trăng không liên quan đến trận động đất ở NHật Bản.

Trong cuộc phỏng vấn của Đài Tiếng nói nước Nga, Phó Giám đốc Viện địa lý thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga, nhà khoa học Arkady Tishkov cho rằng trận động đất tàn phá nhất trong lịch sử Nhật Bản cường độ 8,9 độ ríchte ngày 11/3 có thể do vị trí của Mặt trăng và các quá trình hoạt tính của Mặt trời gây ra.

Ông Tishkov nói: “Có một lý thuyết cho rằng các chu kỳ hoạt động địa chấn của Trái đất liên quan trực tiếp với hoạt tính của Mặt trời. Mặt trời tuôn ra các luồng proton ảnh hưởng đến hoạt động của Trái đất. Vấn đề thứ hai là hiện Mặt trăng đang ở giai đoạn gần Trái đất nhất. Điều này gây ảnh hưởng đối với Mặt trời và có thể ảnh hưởng đến chế độ hoạt động của hải lưu. Và như vậy, Thái Bình Dương thay đổi chế độ mặc định của thủy triều, có thể ảnh hưởng đến chuỗi núi lửa, được gọi “vành đai lửa” của Thái Bình Dương”.

Theo nhà khoa học này, Mặt trăng hiện nằm ở vị trí cách Trái đất khoảng 350.000km. Đây là thời điểm quỹ đạo Mặt trăng gần nhất trong thập kỷ qua. Đương nhiên, Mặt trăng đang ở gần như vậy nhất định tác động mạnh lên thạch quyển của Trái đất. Còn Mặt trời đang ở giai đoạn hoạt tính cao nhất trong vòng mấy năm qua và vừa qua có đợt phun trào mới gây ra cơn bão từ rất mạnh mà tất cả các cư dân của Trái đất đều nhận thấy.

Ông Tishkov nói tiếp: “Mối quan hệ giữa các hiện tượng như vậy có thể không luôn nhất quán, nhưng vẫn tồn tại, được ghi nhận, và thường xuyên thể hiện. Chu kỳ địa chấn và hoạt tính của Mặt trời có thể trùng với nhau, và trong tương lai gần, khoảng những năm 2011-2015 sẽ là chu kỳ núi lửa hoạt động cao nhất và địa chấn lớn nhất”

NAM BẮC PHÂN TRANH SAU 1975 (BÀI 4)

 

18 người Việt thiệt mạng vì bạo động trong trại tị nạn

Nguyễn Tường Tâm

 (Tiếp theo kỳ trước) Tại Hồng Kông còn có một trại mở là trại Pillar Point. Trại này chứa những thuyền nhân tới trước tháng 6/1988 là thời gian thuyền nhân Việt Nam đương nhiên được tư cách tị nạn. Sau thời gian này tất cả những thuyền nhân tới Hồng Kông đều bị nhốt vào trại cấm (closed camps) để chờ thủ tục thanh lọc xác định tư cách tị nạn tùy từng trường hợp.

Ngoài một số thuyền nhân mới được thanh lọc chấp nhận qui chế tị nạn đang chờ đi nước thứ ba, đại đa số thuyền nhân trong trại này là người miền bắc đã tới Hồng Kông từ trước tháng 6/1988 nhưng vẫn chưa được nước nào nhận vì là thành phần có án tù. Là một trại mở (open camp), các thuyền nhân trong trại Pillar Point được tự do ra vào. Trong trại này hầu hết là thành phần nghiện hút và tội phạm. Tôi đã một lần vào đó tìm người quen giữa ban trưa mà nhìn những thuyền nhân miền bắc trong đó cũng cảm thấy rờn rợn, không biết mình có thể bị trấn lột lúc nào. Sau đó tôi không dám bén mảng vào trong trại đó nữa. Tình hình an ninh trong trại này được mô tả theo bản tin của AFP ngày 14/6/1999, (Riot at Vietnamese refugee camp in Hong Kong; 17 injured- http://www.catholic.org.tw/) như sau: ““Bạo động trong một trại tị nạn người Việt tại Hồng Kông; 17 người bị thương”. Theo bản tin, cảnh sát Hồng Kông đã dùng lựu đạn cay để dẹp một cuộc bạo động trong một trại tị nạn khiến ít nhất 17 người bị thương. Khoảng 200 thuyền nhân Việt Nam đang tìm sự bảo vệ tại một đồn cảnh sát gần trại tị nạn Pillar Point cho hay họ sợ bị các thuyền nhân khác tấn công. Cảnh sát trang bị chống bạo động đã chiến đấu trong hơn một tiếng đồng hồ để dập tắt một cuộc đánh nhau giữa hàng trăm người tị nạn trong trại vào ngày hôm trước, Chủ Nhật 13/6/99. Cảnh sát cho hay có bốn thuyền nhận bị bắt và 17 vũ khí tự chế bị tịch thu. 11 trong 17 người bị thương được cho nhập bệnh viện trong đó có một em bé 9 tháng tuổi. Các người trong trại cho hay trại Pillar Point đã bị các nhóm băng đảng chiếm giữ. Đó là thành phần tạo ra những rối loạn. Một thuyền nhân cho biết các người trong trại bị buộc phải nạp cho các thuyền nhân đã ở trước tới 300 đô la Hông Kông, tương đương 39 đô la Mỹ để trả tiền bảo vệ.

Báo chí cũng cho hay các thuyền nhân trong trại đổ lỗi cho những phần tử nghiện hút trong trại tạo ra những bất an. Họ nói rằng các nhóm băng đảng kiểm soát đĩ điếm, cờ bạc và nghiện hút. Đồng thời từ lâu vẫn có sự thù địch giữa các thuyền nhân miền nam và miền bắc trong trại.”

Bản tin không nói ai là thuyền nhân miền bắc, ai là thuyền nhân miền nam, nhưng những ai đã ở tại Hồng Kông thì đều biết nạn nhân là các thuyền nhân miền nam hay Việt gốc Hoa, còn thủ phạm là các thuyền nhân miền bắc.

Tại một trại chuyển tiếp khác dành để tạm thời chứa những thuyền nhân đã được cấp qui chế tị nạn chờ được đưa đi Phi luật tân để được các quốc gia đệ tam phỏng vấn tuyển chọn, những người miền bắc cũng trấn lột những thuyền nhân miền nam. Những người ở trại này chỉ ở tạm thời 2 tuần lễ thôi cho nên người miền nam họ nín thở qua sông để chờ ngày ra đi, không dám phản ứng gì. Thậm chí không dám kể với ai. Khi tôi hỏi thăm thì mới vỡ lẽ ra là 100 phần trăm đều bị người miền bắc trấn lột.

Không những trấn lột người tị nạn miền nam, người miền bắc còn ra Hồng Kông ăn cắp của người Hồng Kông, thường là của các siêu thị. Một hôm một cô gái trẻ đẹp miền bắc hỏi vợ chồng tôi, “Cô chú không đi chợ à?” Chúng tôi thành thật trả lời là không có tiền thì cô ta giọng thản nhiên, “Đi chợ đâu cần tiền cô chú!” Tôi ngạc nhiên giả bộ muốn đi, hỏi tiếp, thế đi chợ làm sao. Cô ta thản nhiên cho biết, “Đi ăn cắp trong các siêu thị đó mà chú!”. Cô ta còn hướng dẫn, đi thành một toán 3 , 4 người. Vào siêu thị giả bộ hỏi mua đồ lung tung. Tốt nhất là hỏi xem các tấm vải để bọn nó (người bán) phải giăng rộng tấm vải ra, như thế tấm vải sẽ che mắt nó (người Hồng Kông). Những đứa khác tha hồ mà ăn cắp.

Sau đó, mỗi khi gia đình chúng tôi đi siêu thị, tôi thấy nhân viên siêu thị đi theo bén gót. Tôi thấy nhục nhưng thông cảm với họ. Là người Việt ở Hồng Kông mình bị nhục vì hành vi ăn cắp, quậy phá của những người miền bắc trong suốt gần hai chục năm trời (tính theo thời điểm cuối năm 1992 là năm gia đình tôi được cấp qui chế tị nạn và ra ở trại chuyển tiếp ở Hồng Kông) kể từ khi người miền bắc ăn theo người người miền nam đặt chân “tị nạn” tới Hồng Kông.

 Không phải khi đã tới nơi an toàn là Hồng Kông người miền bắc mới quậy phá. Trên đường vượt biên, một lần tôi dừng thuyền tại một thị xã nhỏ của Trung Quốc. Năm 1989, Trung Quốc còn nghèo lắm. Nhiều nơi còn nghèo hơn Việt Nam cộng sản nữa. Lên bờ đi vào thị xã, tôi thấy một toán thuyền nhân miền bắc hơn một chục nam, nữ, lớn bé. Có cả mấy tay thanh niên mặc quần đùi, cởi trần một cách rất là “mất dạy”, xâm trổ khắp thân mình, lang thang trong phố xá của người ta. Trong khi mình là người đang đi tị nạn, cần được người ta thương và giúp đỡ. Trông thấy trong một quán tạp hóa nhỏ có toán thuyền nhân người Việt nên chúng tôi cũng bước vào. Quán thì nhỏ, hàng thì ít, họ tới trước nên chúng tôi đứng chờ họ mua. Tôi thấy họ mở hết lọ này tới lọ kia hỏi chủ quán lung tung. Rồi tôi thấy bà chủ quán tiếp họ mà mặt không vui, cứ nhìn tôi lắc đầu hoài. Tới khi toán người miền bắc đi ra, không mua gì, tôi thấy bà chủ quán tiếp toán của tôi rất bình thường. Bà ấy không nói được tiếng Anh, và chúng tôi thì không nói được tiếng Tầu nhiều. Nhưng nhìn cử chỉ tôi biết là bà chủ quán như cảm thấy vừa thoát nạn khi toán người miền bắc ấy đi ra.

Người miền bắc đi vượt biên quá dễ dàng. Nếu bị bắt họ không bị tù vì tội vượt biên như người miền nam. Đường đi lại ngắn, không nguy hiểm. Nhiều khi họ lấy nguyên chiếc tầu sắt của nhà nước để chở cả trăm người trong một chuyến đi với đầy đủ thức ăn nước uống. Họ đi một cách rất an toàn. Nhiều người miền bắc kể với tôi, “Đi vượt biên mà xếp hàng như đi hành quân ấy.” Vì thế họ đến Hồng Kông rất đông. Theo trang web “Vietnamese people in Hong Kong – Wikipedia, the free encyclopedia” cao điểm vào năm 1989 có tới khỏang 300 người đổ tới Hồng Kông một ngày. Bởi vì họ đi quá dễ dàng nên tại những trại tị nạn ở Hồng Kông họ chiếm đa số. Vì thế trong suốt những năm dài có trại tị nạn ở Hồng Kông, với số đông áp đảo, tính tình hung hãn và dường như kết quả của nền giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa (?), người miền bắc luôn luôn làm chủ tình hình, bắt nạt, cướp bóc, trấn lột người miền nam và người Việt gốc Hoa. Đối với nội bộ địa phương với nhau thì họ cũng chia rẽ, chém giết nhau để tranh dành quyền lực. Và phe nào thắng thế trong trại cũng đều “cai trị” rất là độc đoán, áp dụng luật mafia chứ không áp dụng luật bình thường văn minh của Hồng Kông.

 Một lần tôi hỏi một chú em người miền bắc, được người nhà bảo lãnh đi Mỹ,

Anh thấy em hiền như thế này lúc ở trong trại thì gia đình em sống làm sao?” Chú ấy hiền lành trả lời, “Trong trại thì em cũng phải “gấu” chứ, nếu không thì chúng nó bắt nạt chết!”

Nhưng cũng có một lần người miền nam quá uất ức phản công. Đó là lần duy nhất người miền nam thắng thế nhưng đó lại là lần gây tử vong nhiều nhất trong lịch sử tị nạn Hồng Kông khiến dư luận Hồng Kông cũng như những người ngoại quốc thiện nguyện làm việc trong các trại tị nạn bàng hoàng và ghê sợ người Việt nam nói chung. Mời quí vị đọc bản tin trước khi với kinh nghiệm là một thuyền nhân tại Hồng Kông trong thời gian đó, tôi sẽ giải thích thêm để quí vị hiểu về nội vụ:

18 người Việt thiệt mạng vì bạo động trong trại tị nạn” ( 18 Vietnamese Die in Violence at Refugee Camp-By BARBARA BASLER,-Published: Tuesday, February 4, 1992) Theo bản tin của Barbara Basler, ngày Thứ Ba, mùng 4/2/1992, nhà chức trách cho hay, mười tám thuyền nhân Việt Nam đã thiệt mạng và 128 thuyền nhân khác bị thương trong một trại tị nạn ở Hồng Kông vào tối thứ Hai khi các phần tử bạo động đã nổi lửa đốt một căn nhà lớn (Hut) trong một cuộc đụng độ bắt đầu từ việc tranh nhau nước nóng.

Bộ trưởng an ninh Alistair Asprey cho hay hoả hoạn đã được gây ra bởi những người Việt nam nhét những tấm mền đang cháy qua các cửa sổ vào trong một căn nhà. Đây là cuộc tấn công cố tình nhắm vào một nhóm người trong căn nhà đó.

Nhà chức trách cho hay các người thiệt mạng trong đó có ít nhất một em nhỏ, là những thuyền nhân đã tự nguyện hồi hương và đang chờ thủ tục. Nội vụ là một thương vong lớn nhất từ trước tới nay tại trại tị nạn Hồng Kông, khởi đầu lúc 11 giờ trưa tại một khu vực nằm cạnh khu vực các người tự nguyện hồi hương tại trại Sek Kong.

Nhà chức trách cho hay 17 trong các nạn nhân bị đốt chết cháy và một người khác bị chết sau đó tại bệnh viện. Trong số 55 người được điều trị tại bệnh viện, 7 người ở tình trạng trầm trọng. Nhà chức trách tin rằng số tử vong sẽ còn thêm.

Nhà chức trách nói rằng nhiều trăm thuyền nhân tham gia trong cuộc đánh nhau giữa các băng đảng miền bắc và miền nam. Họ đánh nhau bằng các vũ khí dao kiếm tự chế. Những người thiệt mạng là người miền bắc.

Ông Asprey nói rằng cuộc tranh cãi về nước nóng trong lúc xếp hàng chờ được xử dụng đã được cảnh sát ngăn chặn nhưng lại bộc phát sau đó vào buổi tối. Khi cảnh sát cố ngăn chặn vụ đánh nhau thì hàng trăm người Việt Nam từ khu vực kế cận phá hàng rào ngăn cách tham gia ẩu đả khiến cảnh sát phải rút ra ngoài và gọi tăng viện.

Sau đó có khoảng 400 cảnh sát được gọi tới giúp chấm dứt bạo động bằng cách bắn 33 quả lựu đạn cay vào trại. Lính cứu hỏa phải mất tới 90 phút mới dập tắt được ngọn lửa.

Thống đốc Hồng Kông ông David Wilson, và các viên chức an ninh hàng đầu đã tới trại bằng trực thăng vào sáng hôm sau …

Thống đốc đã ra lệnh tách rời số thuyền nhân hai miền nam, bắc Việt nam này ra hai địa điểm khác nhau. Có khoảng 2000 (hai ngàn) thuyền nhân miền bắc sẽ được di chuyển sang trại khác. Hầu hết các thuyền nhân ở Hồng Kông tới từ miền bắc Việt Nam.”

Dường như trong bản tin này phóng viên có ghi lầm là những người miền bắc là những người tình nguyện hồi hương được đưa tới trại này. Theo tôi nhớ lần đó một số ít người miền trung (miền nam không cộng sản) tự nguyện hồi hương được đưa tới một khu nhỏ có vòng rào bao bọc giữa một trại miền bắc. Ỷ số đông, người miền bắc hiếp đáp người miền nam như thường lệ. Nhưng lần này người bị hiếp đáp là những người đã “thí cô hồn” bỏ cuộc, muốn trở về Việt Nam nên không còn thiết gì nữa (Tâm trạng của kẻ “Không còn gì để mất” ?). Người miền trung (nam) đã phản công. Những người miền nam ở trong khu vòng rào đã xô ngã hàng rào để tràn sang khu người miền bắc. Họ bao vây bên ngoài căn nhà chứa khoảng 200 người (căn nhà nào cũng chứa số người như thế), đồng thời họ lấy mền (rất nhiều, do trại phát) tẩm dầu (trong trại có dầu hôi để nấu ăn), tung vào căn nhà để đốt. Những ai từ trong nhà chạy ra đều bị họ đánh, chém hung bạo. Kết quả tử vong như bản tin đã loan. Chi tiết cuối cùng của bản tin khiến tôi tin rằng tôi nhớ chính xác, trại Sek Kong là trại chứa người miền bắc. Những người hồi hương được gom từ các trại khác đưa tới đây là người miền nam. Đoạn cuối bản tin viết rằng “Thống đốc đã ra lệnh tách rời số thuyền nhân hai miền nam bắc Việt nam này ra hai địa điểm khác nhau. Có khoảng 2000 thuyền nhân miền bắc sẽ được di chuyển sang trại khác. “ Đây là trại của người miền bắc nên mới có số đông thuyền nhân miền bắc như thế. Số người tự nguyện hồi hương mỗi đợt nhiều nhất chỉ hai, ba trăm người chứ không thể có tới số ngàn. Chi tiết thứ nhì là Thống đốc Hồng Kông đã chỉ thị tách rời 2,000 thuyền nhân miền bắc đi chỗ khác chính là để tránh một sự trả thù của người miền bắc.

Hôm sau, nhân viên ngoại quốc làm thiện nguyện trong trại kể chuyện đó với chúng tôi và họ kết luận, lâu nay họ tưởng người miền nam hiền và tốt, nhưng chuyện đó cho thấy người miền nam cũng như người miền bắc. Chúng tôi nghe mà không nói nổi một lời!

Vào cuối chương trình tị nạn, 1992, Hồng Kông chỉ chấp nhận cho những thuyền nhân được công nhận tị nạn tạm trú trong 2 tuàn lễ để làm thủ tục đi nước thứ ba thôi. Thời gian đó chỉ đủ để cao uỷ tị nạn chuyển số thuyền nhân đó sang trại Bataan ở Phi luật tân trong ít nhất là 6 tháng để họ học cách sống để hội nhập vào các quốc gia phương tây, đồng thời xin quốc gia thứ ba phỏng vấn để thu nhận họ. Tại trại Bataan lúc đó có 12 vùng, trong đó chỉ có 1 vùng là có người tị nạn miền bắc. Mặc dù số lượng ít ỏi như vậy nhưng họ rất đoàn kết chặt chẽ cho nên họ áp đảo được du đãng miền nam. Một lần cảnh sát Phi luật tân trong trại cùng với ông đại diện cao ủy tị nạn đi lùng khắp trại để tìm một người bị bắt cóc. Suốt một ngày trời tìm đôn tìm đáo, tới mãi xế chiều nhà chức trách mới giải cứu được thanh niên bị bắt cóc khỏi một căn nhà ở ngay gần văn phòng trại. Thanh niên này là một du đãng miền nam. Tối hôm trước cậu ta trấn lột chiếc đồng hồ của một thanh niên miền bắc. Thế là hôm sau đầu gấu miền bắc tập trung kéo tới tận nơi cư trú của cậu du đãng miền nam này bắt trói thúc ké, cho khoác bên ngoài một cái áo măng tô rồi hai bên có hai đầu gấu cặp cổ đi kèm cứ như là ba người bạn thân đi ngoài đường. Cuộc bắt cóc như thế vượt qua được các trạm kiểm soát từ vùng nọ sang vùng kia để rồi đem nhốt đối thủ vào trong nhà đánh cho một trận nhừ tử tới chiều mới thả. Nếu ở ngoài đời thì cậu du đãng miền nam này có thể đã bị thủ tiêu rồi. Phương cách hoạt động của đầu gấu miền bắc cho thấy họ được gia đình hỗ trợ (bởi thế họ đông hơn), đoàn kết hơn, hành động tập thể hơn và liều mạng hơn. Gia đình miền nam không hỗ trợ khi con em họ trở thành du đãng nên số lượng du đãng miền nam không nhiều bằng miền bắc nếu hai bên có số dân cư tương tự. Hôm sau viên sĩ quan cảnh sát trưởng vùng tôi ở gặp tôi cho biết tin về vụ bắt cóc hôm trước và nói với tôi rằng, “Ông biết bắt cóc ở Phi luật tân là một tội nặng lắm. Đã vậy bọn chúng lại cả gan nhốt kẻ bị bắt cóc ở ngay gần trụ sở cảnh sát chúng tôi. Tôi thắc mắc là không biết mạng lưới của bọn chúng sâu rộng cỡ nào và bọn chúng muốn thách thức cảnh sát chúng tôi hay sao?” Tôi nói với vị cảnh sát đó rằng đó là vụ thanh toán nhau giữa hai băng ăn cướp thôi, chứ chúng không định thách thức các ông đâu. Và bọn chúng cũng không nhiều đâu. Sau đó khi ông ta hỏi tôi về phương cách đối phó, tôi đề nghị để mặc kệ cho hai nhóm thanh toán nhau, không điều tra vụ bắt cóc. Như vậy là dẹp yên được một phe. Sau đó gọi bên thắng tới nói cho biết “danh sách và mọi hoạt động đã bị cảnh sát ghi nhận rồi. Nếu muốn yên thì không được quậy phá. Nếu quậy phá thì sẽ bị bắt hết”. Giải pháp đó mang lại yên bình cho trại tị nạn Bataan trong thời gian 6 tháng gia đình tôi ở trại đó, trước khi đi Mỹ.

Hầu hết các thuyền nhân miền bắc không được vào Mỹ.

 Theo chính sách tiếp nhận những người được qui chế tị nạn, tất cả những ai có thân nhân bảo lãnh đều phải được phỏng vấn trước tiên bởi quốc gia của người thân nhân nạp đơn xin bảo lãnh. Ví dụ tôi có mẹ ở Pháp đã nạp đơn bảo lãnh thì sau khi đậu thanh lọc, tôi phải được phỏng vấn trước tiên bởi nước Pháp. Và khi nước Pháp nhận thì tôi phải đi Pháp chứ không có quyền chọn lựa nước khác.

Nguyên tắc thứ nhì là tất cả những cựu quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa sau khi đậu thanh lọc đều phải được Mỹ phỏng vấn trước tiên. Khi nào Mỹ từ chối thì mới được đi phỏng vấn với các nước khác.

Nguyên tắc kế tiếp là tất cả những thuyền nhân miền bắc đều không được Mỹ nhận cho phỏng vấn, tức là Mỹ từ chối không nhận người miền bắc (dĩ nhiên trừ một số ít có thân nhân ruột thịt như cha mẹ anh chị em tại Mỹ bảo lãnh).

 Đó là lý do các thuyền nhân miền bắc qui tụ đông đảo tại các nước Canada, Úc và Anh. Đặc biệt lúc đó Hồng Kông còn là thuộc địa của Anh cho nên tất cả những thuyền nhân miền bắc phạm tội tại Hồng Kông nếu bị các quốc gia khác từ chối thì Anh quốc phải nhận hết trước khi trao trả Hồng Kông lại cho Trung Quốc. Đó là lý do Anh quốc nhận nhiều thuyền nhân miền bắc có tiền sử tội phạm nhất. (còn tiếp-Văn hóa tội phạm được thuyền nhân miền bắc du nhập vào các- quốc gia thâu nhận họ)

Ghi chú: danh từ “Người miền bắc” trong loạt bài này chỉ những người bắc còn ở lại Hà nội sau năm 1954 và những người vào miền nam sau ngày 30-4-1975, kể cả con cháu họ, cho dù sinh trưởng tại miền nam sau đó.

BẢO HIỂM CỦA T.T OBAMA

 

Cải cách y tế đã được đề cập đến nhiều trong suốt 60 năm qua, nhưng có lẽ chỉ đến nay toàn bộ xã hội mới đạt được sự đồng thuận cao về sự cần thiết phải bắt tay vào thực hiện. Trước đó, nhiều lần nỗ lực cải cách đã được đưa ra, nhưng đều chết yểu vì gặp phải sự chống đối mãnh liệt từ phía này hoặc phía khác. Lần này, mọi phía từ Cộng Hoà đến Dân Chủ, từ Bảo thủ đến Cấp tiến, từ các hảng bảo hiểm cho đến giới cung cấp dịch vụ y tế, đều đồng ý rằng đã đến lúc việc cải cách y tế là tất yếu và không thể trì hoản. Vấn đề tranh chấp còn lại là cải cách như thế nào. Sự tranh luận, cho đến nay, vẫn chưa kết thúc, dự luật vẫn còn nằm kẹt ở Thượng Viện, chưa thông qua được.

Để góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu về cuộc cải cách, bài viết này xin được, trước hết, lược qua các mô hình và hệ thống bảo hiểm y tế của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới; sau đó tóm tắt về hiện trạng của nền y tế Mỹ cùng những tranh luận chính xoay quanh việc thực hiện cải cách hiện nay.

Các mô hình bảo hiểm y tế trên thế giới.

A.Mô hình Bismarck: Đức, Nhật, Pháp, Thụy sĩ, v.v..: Giới cung cấp dịch vụ và người chi trả cho các dịch vụ y tế hoàn toàn là tư nhân, trên căn bản từ thiện, không kiếm lời (not for profit); với luật lệ chặt chẽ về dịch vụ và lệ phí. Mô hình này do cố thủ tướng Von Bismarck của Đức đưa ra vào năm 1883, nằm trông nỗ lực thống nhất quốc gia, xây dựng một dân tộc khỏe mạnh làm nền tảng cho một đội lục quân tinh nhuệ. Trong mô hình này, chủ và thợ cùng chia nhau trách nhiệm về bảo hiểm y tế. Chính phủ đảm trách việc giúp chi phí y tế cho người nghèo; còn những người giàu có nhất được miễn khỏi mua bảo hiểm y tế.

B.Mô hình Beveridge: là mô hình của Anh quốc, theo đó Chính phủ cung cấp toàn bộ dịch vụ y tế cho người dân qua National Health Services. Có bệnh viện và bác sĩ tư, nhưng đa số còn lại nằm trong tay của chính quyền. Ý, Tây Ban Nha, Na Uy, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hong Kong theo mẫu này. Mô hình này cung cấp bảo hiểm y tế phổ quát cho mọi người.

C.Mô hình Bảo Hiểm Y tế Quốc gia: Dịch vụ y tế do khu vực tư nhân cung cấp, nhưng người trả phí tổn là chính phủ thông qua hảng bảo hiểm y tế do chính phủ kiểm soát. Chính phủ là người quyết định dịch vụ y tế nào nên được làm và thời gian chờ đợi. Canada, và ở mức độ nào đó, Đài Loan, Nam Hàn là những nước theo mô hình này.

D.Mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model): Đa số hơn 150 quốc gia trên thế giới không có hệ thống chi trả cho chi phí y tế. Bệnh nhân phải tự trang trãi cho các chi phí y tế bằng tiền túi của mình; không có những chương trình bảo hiểm do tư nhân hay chính phủ điều hành. Chẳng hạn, ở Camphuchia, 91% chi phí y tế trong nước được trả bằng tiền túi; 85% ở Ấn Độ và 73%  ở Ai Cập. Trong khi đó ở Anh, có chừng 3% và Mỹ có chừng 17% dịch vụ y tế được trả bằng tiền túi của bệnh nhân ( từ hơn 47 triệu người không có bảo hiểm).

Bảo hiểm y tế của vài quốc gia tiêu biểu

Pháp: Carte vitale

Nước Pháp có hệ thống bảo hiểm y tế cho mọi người (universal health care).
Giá cả dịch vụ y tế được niêm yết ngay tại các phòng mạch bác sĩ cũng như các tại các trung tâm y tế. Bệnh nhân được thông báo trước bách phân chi phí họ sẽ được hoàn trả từ hảng bảo hiểm. Toàn bộ tiểu sử y tế (medical history) của mỗi người được nhị phân hoá (dìgitzed) và bỏ vào trong một tấm thẻ plastic gọi là Carte Vitale. Mọi công dân Pháp tuổi trên 15 đều được cấp Carte vitale; tiểu sử y tế của trẻ em được ghi trên carte vitale của người mẹ. Chính nhờ loại thẻ này mà các văn phòng bác sĩ, trạm xá hay bệnh viện của Pháp không cần phải có hồ sơ bệnh nhân bằng giấy chứa trong các dãy kệ dài đựng hồ sơ như hiện nay vẫn có ở Mỹ.

Có cả bảo hiểm của các công ty bảo hiểm tư lẫn của chính phủ. Công nhân được bảo hiểm thông qua công ty nơi họ làm việc hoặc vùng họ cư trú; họ không có tự do lựa chọn chương trình bảo hiểm; chủ nhân và công nhân chia nhau đóng tiền bảo hiểm.

Đặc điểm là Caisse d’assurance maladie (sickness insurance funds): Quỹ bảo hiểm bệnh tật là những định chế bất vụ lợi (not for profit) với mục đích duy nhất, không phải là kinh doành, mà là giúp chi trả chi phí chữa bệnh cho mọi người. Người Pháp không bị các quỹ này từ chối bảo hiểm vì bất cứ lý do gì, và khi mất việc làm, họ không bị mất bảo hiểm y tế, chính phủ tiếp tục trả cho họ trong thời gian thất nghiệp. Chi phí điều hành của các Quỹ này rất thấp chỉ chừng 5%; so với chi phí đó của các hảng bảo hiểm Mỹ là 20%.

Tổ chức Y tế Thế Giới (World Health Organization, WHO) xếp hạng nền y tế của Pháp là số một của Thế giới về khả năng chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo (mortality amenable to healthcare), về tử suất trẻ sơ sinh và tuổi thọ của người lớn tuổi.

Người Pháp khi đi khám bác sĩ không phải lo vấn đề trong hay ngoài network như ở Mỹ, cũng không phải qua sự giới thiệu của bác sĩ gia đình (family doctors, primaryphysicians) khi đi gặp bác sĩ chuyên môn (specialists).

Bảo hiểm y tế là một sự cưỡng bách; mọi người đều phải có bảo hiểm y tế, tự ý bỏ bảo hiểm y tế là một hành vi phi pháp. Mọi người trả tiền mua bảo hiểm tuỳ theo lợi tức của mình. Chẳng hạn một người thu nhập 20,000 dollars/ năm phải trả chừng 150 dollars/ năm cho bảo hiểm y tế.

Chi phí y tế bình quân đầu người hàng năm của Pháp là chừng 3165 dollars, và mọi người đều được bảo hiểm; trong khi Mỹ thì đến 7000 dollars/người, nhưng có đến hơn 47 triệu người không được bảo hiểm! Lợi tức của các bác sĩ Pháp rất thấp so với các bác sĩ Mỹ; trung bình một bác sĩ toàn khoa ở Pháp chỉ kiếm được chừng 80, 000 dollars/ năm. Pháp chi gần 10% của GDP, tổng sản phẩm nội điạ quốc gia (general domestic products) cho y tế; trong lúc Mỹ chi đến 17% của GDP!

Đức:

Người Đức sử dụng thẻ Die elektronischen Gesundheitskarte, the digital heath card (Thẻ Y tế điện tử) tương tự như Carte Vitale của Pháp, giúp giảm chi phí về quản lý hồ sơ và thanh toán y phí.

Hệ thống bào hiểm y tế của Đức dựa vào Luật Bảo Hiểm Bệnh tật ra đời từ năm 1883 dưới thời của thủ tướng “ sắt “  Otto Von Bismarck. Người Đức, bị bắt buộc theo luật, mua bảo hiểm từ hơn 200 quỹ bệnh tật Krankenkassen trên toàn quốc. Các qũy bệnh tật này, tương đương với hảng bảo hiểm y tế ở Mỹ, là những tổ chức không kiếm lời, nghĩa là không phải chạy đua theo lợi nhuận để thoả mãn yêu cầu của giới đầu tư (investors) như các hảng bảo hiểm ở Mỹ. Lệ phí bảo hiểm hàng tháng ấn định dựa trên lợi tức cá nhân. Trung bình một công nhân Đức hiện nay đóng 15% tiền lương cho bảo hiểm y tế; chủ nhân sẽ chịu một phần tương đương cho mỗi công nhân. Khác với công nhân Mỹ, người công nhân Đức có thể lựa chọn bất kỳ Krankenkassen nào và thay đổi bất kỳ lúc nào. Khi bị thất nghiệp, tự động chính phủ sẽ trả chi phí bảo hiểm cho người thất nghiệp.

Các quỹ bệnh tật Krankenkassen là bất vụ lợi, không từ chối bảo hiểm cho bất kỳ ai cần cũng không từ chối chi trả cho bất cứ dịch vụ y tế nào được cung cấp bởi các bác sĩ và bệnh viện. Chi phí điều hành của các Krankenkassen này trung bình chỉ bằng chừng 1/3 chi phí của các hảng bảo hiểm Mỹ. Tuy bất vụ lợi, nhưng các Krankenkassen cạnh tranh nhau ráo riết để thu hút người mua bảo hiểm, nâng cao uy tín và thu nhập cho nhân viên điều hành. Các Krankenkassen này cung cấp bảo hiểm cho hầu hết người Đức, 93%. Còn lại chừng 7% những người giàu nhất xã hội, được miễn bị bắt buộc phải mua bảo hiểm từ Krankenkassen,  chọn mua bảo hiểm từ các hảng bảo hiểm tư khác; tất nhiên với giá cả cao hơn rất nhiều.

Bác sĩ ở Đức chỉ phải trả một số tiền nhỏ hàng năm cho bảo hiểm  sai lầm nghề nghiệp (malpractice insurance), khoảng $1400/năm; tương đương với lệ phí một tuần của bác sĩ ở Mỹ. Nhưng đồng thời, thu nhập của bác sĩ ở Đức cũng thấp hơn nhiều, trung bình từ  100. 000 USD đến 150.000 USD/ năm

Nhật Bản

Là một hệ thống bảo hiểm tư nhân với ít nhiều tài trợ từ chính phủ. Hệ thống bảo hiểm của Nhật bắt chước theo khuôn mẫu Bismarck của Đức, được thiết lập ra từ hồi cuối thế kỷ 19 trong quá trình nước Nhật canh tân hóa theo Tây Phương. Người Nhật bắt chước cách tổ chức hải quân theo mẫu của người Anh; luật pháp thì theo mẫu Luật Napoleon của Pháp; còn lục quân, hệ trung học và an sinh xã hội thì theo mô hình của Đức.

Mọi người bắt buộc (personal mandate) phải đăng ký với một chương trình  bảo hiểm y tế.Tổng cộng Nhật Bản có chừng 3.500 chương trình bảo hiểm y tế khác nhau, có thể gộp chung thành 3 loại:

1.- Loại của các đại công ty và các cơ quan chính phủ lớn, trong đó công ty trả 55% lệ phí bảo hiểm (premium), công nhân trả 45% còn lại. Loại này không nhận bất kỳ sự trợ cấp tài chánh nào từ chính phủ trong vấn đề bảo hiểm y tế. Những công ty như Honda, Toyota có bệnh viện lớn riêng cho công nhân của họ.

2. – Công nhân làm cho các hảng nhỏ đóng một nửa lệ phí bảo hiểm, chủ nhân đóng nửa còn lại. Nhưng các hảng nhỏ này được chính phủ trung ương trợ cấp 14% lệ phí bảo hiểm y tế.

3. – Chương trình Bảo hiểm Y tế Công dân: dành cho những người về hưu và các tiểu chủ, tiểu thương. Trong chương trình này cá nhân và chính quyền địa phương cùng nhau chia đều lệ phí bảo hiểm y tế.

Thông thường bệnh nhân phải trả 30% co-payment, hảng bảo hiểm trả 70% cho các dịch vụ y tế. Nhưng mỗi người không phải trả quá 650USD/ tháng cho các dịch vụ này.
Các công ty bảo hiểm y tế Nhật là những công ty không vì lợi nhuận (not for profits); lý do tồn tại của họ là giúp thanh toán chi phí y tế, chứ không phải để kiếm lợi nhuận.

Bộ Y tế và An sinh ( Ministry of Health and Welfare) của Nhật  thỏa thuận với giới cung cấp dịch vụ y tế ( providers) một Biểu đồ giá cả (Fee Schedule) áp dụng chung cho tất cả bác sĩ, bệnh viện, trạm y tế trên toàn quốc, và một hướng dẩn tổng quát về quy trình y tế cùng giá thù lao kèm theo có tên là Shiryo Tensu Hyakumihyo (Quick reference Guide to Medical treatment points), dày như một cuốn niên giám điện thoại, liệt kê chi tiết các dịch vụ với phần thù lao đi kèm. Chẳng hạn: gặp bác sĩ gia đình giá 5$, một đêm tại bệnh viện 90$ (gồm cả thức ăn), v.v…

Trung bình một bác sĩ gia đình ở Nhật có thu nhập chừng 120.000USD/ năm; các bác sĩ chuyên môn (specialists) thì chừng 200.000USD/năm. Các bác sĩ hàng năm chỉ phải trả chừng 1200USD cho bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice). Học phí của các trường y khoa rất rẽ chỉ chừng 1500 USD/năm và sinh viên y khoa thường được chính quyền địa phương trợ cấp học phí, vì vậy không sinh viên nào mắc nợ khi tốt nghiệp bác sĩ cả.

Ngoài ra các bác sĩ Nhật, do ảnh hưởng của văn hoá Đông phương, không xem bác sĩ như là một nghề để làm giàu mà cho rằng cứu nhân độ thế là thiên chức của người thầy thuốc, vì vậy đa số họ bằng lòng với mức thu nhập nêu ở trên. Mặt khác, bác sĩ vẫn là giới rất được trọng vọng trong xã hội Nhật.

Một điểm đặc biệt là bảo hiểm y tế Nhật không bảo hiểm cho phụ nữ có thai. Người Nhật quan niệm rằng thai nghén là một quá trình tự nhiên, không phải là một bệnh tật nên không nằm trong sự che chở của bảo hiểm y tế. Tuy nhiên mỗi thai phụ lại được chính quyền địa phương hay thành phố trợ cấp 3000$/lần (maternity grant).

Những biện  pháp khống chế  giá cả y tế như trên đã góp phần hạ thấp chi tiêu y tế ở Nhật, tổng chi phí y tế chỉ chiếm 8% GDP, thấp hơn cả Đức quốc (11%).Nhưng sự khống chế chặt chẻ giá cả này cũng tạo ra những nhược điểm cho nền y tế; đó là sự xuống cấp trầm trọng của các bệnh viện, bệnh xá, trang thiết bị, và đời sống của các bác sĩ, chuyên viên y tế cũng ngày càng khó khăn hơn.

Anh quốc

: Bảo hiểm y tế phổ quát.

Cơ quan British National Health Service (NHS), do vương công William Beverdige khởi xướng trước đây 60 năm, đảm trách việc bảo hiểm y tế cho mọi người ở Anh. Công dân Anh không phải trả lệ phí bảo hiểm (premium). Trẻ em; người già trên 60, người có bệnh kinh niên và thai phụ không phải trả 10$ copayments tiền thuốc; khoảng 85% thuốc cho bệnh nhân là miễn phí. Tuy cũng có bảo hiểm y tế tư nhân, nhưng tuyệt đại đa số, 97%, dân Anh không ai mua bảo hiểm y tế cả, họ xem việc đi khám bác sĩ hay vào bệnh viện không phải trả tiền là điều bình thường.

Cơ quan NHS nói trên có tổng cộng hơn 1 triệu nhân viên, hơn 2000 bệnh viện.

Nền y tế trên đem đến cho Anh quốc một tử suất trẻ em rất thấp, tuổi thọ trung bình rất cao, và mức độ bình phục cho các chứng bệnh hiểm nghèo cao hơn ở Mỹ.
Một đặc điểm của y tế Anh quốc là không có hoá đơn đòi tiền đối với các dịch vụ y tế như vẫn thấy ở Mỹ (no medical billing in England).

Chính phủ Anh đã dùng mức thuế cao thay cho lệ phí bảo hiểm y tế. Thuế bán lẽ (sale taxes) ở Anh là từ 15-17.5%, thuế lợi tức và an sinh xã hội cũng cao hơn ở Mỹ rất nhiều. Chẳng hạn một gia đình thu nhập 150.000USD phải trả thuế lợi tức đến 50%!

Nhược điểm là thời gian chờ đợi để gặp bác sĩ chuyên khoa, để được chẩn đoán hoặc điều trị phức tạp thường khá lâu. Vấn đề hạn định (rationing) đối với một số dịch vụ y tế là một nhược điểm lớn khác của nền y tế Anh.

Ở Anh, mọi người được yêu cầu phải đăng ký với một bác sĩ tổng quát, như một y sĩ đầu tiên, vị bác sĩ này (General Practices) có thẩm quyền giới thiệu đến các chuyên khoa hay những chữa trị phức tạp. Đây là hình thức ở Mỹ gọi là giữ cửa (gatekeeping), trong đó bác sĩ gia đình có thẩm quyền trong việc giới thiệu (recommendation) những xét nghiệm hoặc chẩn đoán chuyên môn cho bệnh nhân; bệnh nhân không được phép tự mình gặp thẳng các bác sĩ chuyên môn mà không có sự đồng ý của bác sĩ gia đình.

Sự hạn định đó thuộc về NHS. NHS ,thông qua cơ quan NICE, có thẩm quyền khống chế khá rộng đối với các xét nghiệm, chẩn đoán, các dịch vụ y tế dành cho bệnh nhân. Sự hạn định này cũng có ở Mỹ, nhưng khác ở chỗ là ở Mỹ các hảng bảo hiểm tư nhân kiểm soát sự hạn định này thường do động cơ lợi nhuận, còn ở Anh, cơ quan NICE (national institute for Health and Clinical Excellence) lại dựa trên hiệu quả thiết thực của dịch vụ y tế cho từng trường hợp bệnh nhân trong tương quan với tài nguyên của xã hội.

Để bù lại, nền y tế Anh quốc đặt trọng tâm vào việc phòng bệnh (preventive care), tỉ lệ bác sĩ gia đình chiếm đến 60%, cao hơn ở Mỹ. Lợi tức trung bình của một bác sĩ gia đình là chừng 125.000$/năm, thu nhập này thay đổi dựa vào số bệnh nhân đăng ký đối với mỗi bác sĩ. Ngoài ra cơ quan NHS còn trao phần thưởng tay nghề (performance bonus) hàng năm cho những bác sĩ có thành tích giúp duy trì sức khoẻ tốt cho số bệnh nhân của mình.
Lệ phí bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice) là khoảng 4.200$/năm; rất thấp so với ở Mỹ. Học phí tại các trường y khoa khá rẻ chỉ chừng 4.000$/năm, vì vậy đa số các bác sĩ mới tốt nghiệp không phải mắc nợ khi ra trường.

Canada

Trước hết vào năm 1944, thống đốc Tommy Douglas của tỉnh Saskatchewan thành lập một hệ thống bảo hiểm y tế do chính quyền điều hành cho toàn thể 1 triệu dân trong tỉnh. Hệ thống ấy thành công rực rỡ đến độ từ năm 1961 trở đi chính phủ Canada đã thành lập hệ thống National Health Insurance, hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát toàn quốc, phỏng theo mô hình của Douglas, với dịch vụ y tế được cung cấp bởi tư nhân và chính phủ là người chi trả cho các dịch vụ ấy. Năm 1965 chính phủ Mỹ tiếp nhận hình thức bảo hiểm này của Canada cho công dân trên 65 tuổi, và cho ra đời chương trình Medicare.

Tuy 10 tỉnh và 3 lãnh thổ của Canada có các chương trình bảo hiểm y tế riêng với ít nhiều khác biệt; chẳng hạn có nhiều tỉnh trả 100% chi phí khám bác sĩ, có tỉnh thì bệnh nhân phải trả chút ít co-payment. Nhưng nhìn chung thì chính quyền Liên bang là người cung cấp ngân sách và quy định luật lệ bảo hiểm cho các địa phương, đứng ra thương lượng về giá cả cho việc chữa trị, thiết bị y tế và thuốc men. Giá thuốc ở Canada rẽ hơn, chỉ bằng ¼ hoặc ½ giá ở Mỹ.

Đạo luật Canada Health Act 1984 quy định vấn đề bảo hiểm y tế như sau

:

•Chương trình bảo hiểm của mỗi tỉnh phải do một cơ quan công cộng điều hành, không có mục đích kiếm lời (non-profit public body).

•Các chương trình bảo hiểm phải trả cho mọi dịch vụ y tế cần thiết (medically necessary services) được liệt kê trong danh sách của chính phủ Liên Bang.

•Bảo hiểm y tế của các tỉnh phải phổ quát, bảo đảm cho mọi công dân cơ hội đồng đều được chữa trị và cấp thuốc men theo quy định của kế hoạch. Các bác sĩ và bệnh viện phải tiếp nhận và chữa trị cho mọi bệnh nhân, không phân biệt, với cùng một mức giá cả.

•Bảo hiểm phải trả ở mọi nơi trên lãnh thổ Canada.

Với hệ thống bảo hiểm y tế như vậy, người Canadian không phải trả tiền cho việc khám bác sĩ, cho việc cấp cứu, nằm bệnh viện, bệnh tâm thần, chích ngừa, các xét nghiệm, MRI, v.v… Nhưng nha khoa thông thường thì không được bảo hiểm chi trả, chỉ có giải phẩu nha khoa tại bệnh viện thì khỏi trả tiền. Tại phần lớn các tỉnh, bệnh nhân phải trả tiền thuốc. Riêng người nghèo, già cả và bệnh kinh niên thì được miễn trả tiền thuốc.

Tuy hệ thống bảo hiểm y tế của chính phủ bao trùm phổ quát như vậy, nhưng bên cạnh vẫn có một số chương trình bảo hiểm tư nhân, dù rằng chiếm một bách phân rất nhỏ, dành cho các dịch vụ nha khoa hoặc những dịch vụ y tế mà bảo hiểm của chính phủ không đãm nhận. Các chương trình bảo hiểm tư nhân này rất rẽ so với Mỹ.

Một nhược điểm của bảo hiểm y tế Canada là thời gian chờ đợi cho một số các dịch vụ y tế đặc biêt thường kéo dài khá lâu. Chẳng hạn một ca giải phẩu cột sống phải chờ trung bình một năm; giải phẩu thay xương bả vai (shoulder arthroplasty) mất chừng 18 tháng chờ đợi; hoặc mổ thay cổ xương đùi phải chờ hằng 10 tháng!

Cùng với sự chờ đợi lâu như trên là sự thiếu hụt bác sĩ. Trung bình ở Canada có 2.2 bác sĩ / 1000 dân, trong khi ở Mỹ là 2.4/ 1000.  Hiện nay chính phủ Canada đang nổ lực gia tăng ngân sách để thu hút thêm bác sĩ và giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân đối với các dịch vụ điều trị phức tạp và đặc biệt.

Ưu điểm của hệ thống Canada là chi phí điều hành của hệ thống bảo hiểm y tế thấp, phía cung cấp dịch vụ y tế, như bác sĩ hay bệnh viện, không phải gởi bills cho bệnh nhân, họ nhận thù lao thẳng từ các văn phòng bảo hiểm y tế của chính phủ. Ngoài ra, người dân Canada không ai phải khai phá sản vì chi phí y tế và cũng không ai chết vì lý do là không có bảo hiểm sức khoẻ và; do đó, đã không được chữa trị. Tử suất trẻ sơ sinh là 5.4 so với ở Mỹ là 7.0 (trên 1000 trẻ). Khả năng chữa trị những bệnh hiểm nghèo của nền y tế Canada, gọi là avoidable mortality, của Canada được WHO xếp hạng 7 trong số 19 quốc gia cao nhất thế giới ( Mỹ được xếp hạng 15/19) .

Việt Nam

:

Cho đến nay tuổi thọ trung bình (life expectancy) của người Việt là 72.2 năm, tuổi thọ sống khoẻ mạnh (healthy life expectancy) là 60.2 năm, xếp hạng 116 trên tổng số 174 quốc gia được thống kê. Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế hoạch Gia đình thì có đến 1.5% trong tổng số 85.8 triệu dân thuộc về dạng chậm trí; 1.5-3% trẻ sinh ra có khuyết tật; Việt Nam hiện có 5.3 triệu người tật nguyền. Dân số gia tăng hàng năm là 947.000 người tương đương với tăng suất 1.2%, có giảm so với tăng suất 1.7% của năm 1999.

Trung bình có 5 bác sĩ cho 10.000 dân (Xin nhớ rằng tỉ số bác sĩ/ dân ở Mỹ là 2.4/1000). Theo thống kê năm 2001 thì chi phí y tế bình quân đầu người hằng năm của VN là 134 dollars/ người (so với Philippine 169USD, Trung Quốc 224USD, Nhật 2131USD và Úc 2532USD). Cũng theo thống kê đó thì tổng chi phí y tế của VN chỉ chiếm 5.1% GDP (tổng sản lượng quốc gia).

Chi tiêu cho săn sóc y tế của chính phủ không được phân phối đồng đều giữa các thành phần dân cư và khu vực. Mức độ chi tiêu của nhà nước cho săn sóc y tế cũng rất thấp, chỉ chiếm chừng 1% của GDP. 80% chi phi y tế là do tiền túi của người dân (out-of-pocket).Mức chi tiêu quá ít này của nhà nước cho lãnh vực y tế hoàn toàn trái ngược với danh xưng Xã hội Chủ nghĩa của VN; nó là kết quả  của “đổi mới để sống còn” để duy trì sự độc quyền của đảng CS và của áp lực từ các định chế quốc tế IMF, World Bank và WTO cũng như từ các quốc gia Tây phương đối với VN trong việc cắt giảm chi tiêu công ích, chuyển hướng hẳn về kinh tế thị trường, mở ngõ lãnh vực y tế nội địa cho quá trình tư nhân hoá và tư bản bên ngoài .

Những năm gần đây, Quỹ Y tế cho Người Nghèo (Health Care Funds for the Poor, HCFP) được thành lập, chỉ cấp rất khiêm tốn 70.000 đồng/người (gần 5dollars); trong đó trung ương cung cấp 76%, số còn lại do địa phương đóng góp. Số tiền đó được dùng hoặc để trả chi phí y tế cho những bệnh nhân nghèo, hoặc để giúp thêm vào việc mua bảo hiểm. Có chừng 11 triệu người hưởng sự giúp đỡ từ HCFP. Hiện Bộ Y tế VNCS đang có chương trình gia tăng gấp đôi ngân sách cho quỹ HCFP này.

Việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa trở nên phổ biến, đa số các giới cung cấp dịch vụ y tế vẫn duy trì thói quen thu tiền mặt từ bệnh nhân, không tỏ ra tích cực trong việc chấp nhận thẻ bảo hiểm. Kể từ 1992, chính quyền VNCS đưa ra những chương trình bảo hiểm y tế cưỡng bách và tự nguyện do cơ quan, đại diện của Bộ Y tế, là Bảo Hiểm Y tế VN điều hành. Có 3 chương trình:

1.Cưởng bách: Dành cho công nhân viên trong biên chế nhà nước và trong các công ty tư nhân có từ 10 người trở lên. Lệ phí là 3% tiền lương, trong đó phía chủ nhân đóng 2%, công nhân đóng 1%.

2.Tự nguyện: Là chương trình dành cho học sinh, sinh viên và các nông dân. Thường nông dân đóng 30%, chính quyền cấp tỉnh đóng 70%.

3.Những chương trình dành cho người nghèo do nhà nước tài trợ.

Tóm lại hệ thống bảo hiểm y tế VN, trong bước đầu hướng theo kinh tế thị trường, vẫn còn thuộc về mô hình out-of-pocket của các nước thứ ba, trong đó 80% chi phi y tế được trang trãi bằng tiền túi của người dân. VN chưa có một hệ thống bảo hiểm y tế thống nhất, được tổ chức chặt chẻ với những luật lệ rõ ràng như các nước phát triển.

Cơ cấu hệ thống bảo hiểm y tế hiện nay của Mỹ

Hệ thống y tế hiện nay của Mỹ là một hổn hợp của cả 4 mô hình nêu ở phần đầu:

A.Đối với những người trên 65 tuổi thì Mỹ lại theo mô hình của Canada. Hệ thống Medicare, do chính phủ Liên bang điều hành, là một hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát áp dụng cho mọi công dân trên 65 tuổi. Mỹ hoàn toàn sao chép chương trình này từ Canada, kể cả tên gọi, từ năm 1965. Chính phủ chi trả cho tất cả mọi chi phí y tế cho các thành viên của chương trình Medicare. Số người trên 65 tuổi chiếm khoảng 13%, tức chừng 40 triệu (con số năm 2007).

B.Người Da đỏ, Quân nhân và Cựu chiến binh thì được hưởng bảo hiểm y tế theo mô hình Beveridge của Anh. Chính phủ Liên bang đảm nhiệm cả việc cung cấp dịch vụ y tế lẫn việc chi trả cho các dịch vụ đó. Các trạm xá và bệnh viện đều là của chính phủ Liên bang; các bác sĩ là nhân viên của chính phủ.

C.Những người trong độ tuổi lao động lại thuộc về mô hình Bismarck. Các chủ nhân và các công ty cùng với công nhân, viên chức chia nhau chi phí mua bảo hiểm. Và công nhân trả thêm co-payment cho một số dịch vụ y tế. Các hảng bảo hiểm y tế hoàn toàn là tư nhân, là những tổ chức có mục đích kiếm lời (for profit entity). Nhóm này chiếm đại đa số dân chúng, đến khoảng 160 triệu người.

D.Cuối cùng là những người không có bảo hiểm y tế. Thành phần này rơi vào mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model) nói ở trên. Nghĩa là họ phải dùng tiền riêng của mình để trả cho toàn bộ những chi phí y tế do họ phát sinh. Hiện nay có chừng hơn 47 triệu người Mỹ thuộc vào mô hình này!

Những vấn đề hiện nay của hệ thống y tế Mỹ

•Phẩm chất của nền y tế kém so với chi phí cao và gia tăng nhanh. Mỹ là nơi quy tụ các bác sĩ, chuyên gia y tế, y cụ và phương pháp điều trị tối tân vào bậc nhất trên thế giới.Tuy nhiên, một cách tổng quát thì phẩm chất của nền y tế, xét theo các tiêu chuẩn quốc tế, lại không cao so với các quốc gia khác và so với mức chi phí. Có đến gần 47 triệu người không có bảo hiểm, khoảng 25 triệu với bảo hiểm giới hạn và hàng năm có đến cả trăm ngàn người chết chỉ vì lý do đơn giản là không có bảo hiểm để được gặp bác sĩ, được chẩn đoán và điều trị.

•Chi phí săn sóc y tế hàng năm của Mỹ cao hơn các nước khác; chẳng hạn gấp đôi Canada, chiếm đến gần 17% Tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và mức chi phí y tế gia tăng quá nhanh; gần gấp đôi chỉ trong vòng chưa đầy một thập niên.

•Các hảng bảo hiểm khống chế thị trường, đẩy giá bảo hiểm lên cao khiến nhiều người không mua nổi. Có trường hợp hảng bảo hiểm từ chối bảo hiểm khi bệnh xảy ra cho những người đã có mầm bệnh, hoặc những chứng liên quan, trước khi mua bảo hiểm, nhưng không ghi trong hợp đồng bảo hiểm; tiếng Mỹ gọi là pre-existing conditions.

•Tất cả các hảng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, for-profit organization; lý do tồn tại  của các hảng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải vì sức khoẻ của khách hàng. Quyền lợi kinh tế của hảng bảo hiểm và quyền lợi y tế của khách hàng luôn mâu thuẩn và tiêu trừ lẫn nhau. Một trong những thủ thuật thông thường của các hảng bảo hiểm là từ chối, hoặc trì hoản, chi trả phí tổn dịch vụ y tế cho khách hàng (deny or delay customer’s claim payments). Họ mướn những chuyên viên để lo việc này (gọi là các claim adjusters), hoặc thiết lập các hệ thống computer tối tân để tự động hoá việc từ chối chi trả. Họ cũng tưởng thưởng cho những nhân viên nào thực hiện được tốt những sự từ chối hoặc trì hoãn như vậy. Theo National Association of Insurance Commissioner thì chỉ riêng trong năm 2008 có đến hơn 195,000 khiếu nại của khách hàng về việc bị các hảng bảo hiểm từ chối chi trả dịch vụ y tế. Có trường hợp khách hàng đã chết rồi mà sự khiếu nại vẫn chưa giải quyết 

•Ngoài ra còn có trường hợp huỷ bỏ hồi tố hợp đồng bảo hiểm (retroactive cancellations/ after-the-fact policy cancellations) nếu hảng bảo hiễm khám phá ra là khách hàng trước đó, khi ký hợp đồng bảo hiểm, đã cố ý hay vô tình không khai một chi tiết bệnh lý nào đó trong hồ sơ cá nhân của mình. Ngay cả những người vì không biết mà không khai cũng chịu sự chế tài đó. Và sự huỷ bỏ này có thể áp dụng cho cả gia đình dù chỉ một thành viên trong gia đình sai phạm. Chẳng hạn một phụ nữa ở Texas bị phát hiện có bướu trong vú. Ngay lúc đó hảng bảo hiểm điều tra và tìm ra là trước đó người phụ nữ này đã mắc chứng rỗng xương (osteoporosis) mà không khai khi lập hợp đồng bảo hiểm. Tuy rằng chẳng có mối liên hệ gì giữa hai căn bệnh, hảng bảo hiểm vẫn lấy lý do đó để huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm!

•Sự an toàn của các dịch vụ y tế là một vấn đề khác. Hàng năm có đến gần 100.000 người chết trong các bệnh viện gây ra do các nhầm lẫn có thể tránh được trong dịch vụ y tế (preventable medical errors), nhiều hơn thương vong do tai nạn xe cộ hay do bệnh AIDS!  Vấn đề này dẩn đến việc giới cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, dược sĩ, bệnh viện, v.v… phải trả bảo hiểm nghề nghiệp cao hơn nhiều lần so với đồng nghiệp ở các quốc gia khác. Nó cũng làm gia tăng các vụ kiện tụng giữa bệnh nhân và các bác sĩ. Tất cả những vấn đề này góp phần không nhỏ vào việc đẩy chi phí y tế nói chung lên cao rất nhanh; hơn gấp đôi chỉ trong một thập niên.

•Một thiếu sót khác liên quan đến vấn đề phòng bệnh (preventive care). Khác với các quốc gia tiên tiến khác, như Anh Quốc chẳng hạn,  hệ thống y tế của Mỹ không chú ý đúng mức đến công tác phòng bệnh. Những bệnh trạng đứng đầu trong danh sách gây tử vong hàng năm như các chứng tim mạch, tiểu đường, ung thư phổi, ung thư vú, v.v… là những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được với hiệu quả cao nếu như sự phòng bệnh được thực hiện chu đáo và người dân có bảo hiểm y tế đầy đủ. Sự thiếu chú trọng đến vấn đề phòng bệnh phản ảnh trong hiện tượng thiếu thốn bác sĩ gia đình.Một số ước tính trong năm 2008 cho thấy nước Mỹ thiếu đến 14,000 bác sĩ gia đình. Hiện nay bác sĩ tổng quát chỉ chiếm 35% tổng số bác sĩ; so với Anh Quốc là 60%.Thu nhập trung bình của một bác sĩ tổng quát là chừng 200,000 dollars/năm; của một bác sĩ giải phẩu chừng 350,000 dollars/năm.  Tỉ lệ sinh viên y khoa chọn đi chuyên ngành rất cao so với số chọn đi toàn khoa. Học phí tại các trường Y khoa rất đắt, trung bình một sinh viên y khoa tốt nghiệp nợ từ 60,000 cho đến 100,000 dollars!

•Sự hạn định dịch vụ y tế (healthcare rationing): Một vấn đề khác trong bảo hiểm y tế ở Mỹ, ít được đề cập đến, là sự hạn định các dịch vụ y tế đối với bệnh nhân. Trước hết là sự giới hạn việc đi khám bác sĩ. Thông thường hảng bảo hiểm buộc bệnh nhân chỉ được đến khám ở những bác sĩ có tên trong một mạng nhất định (in network); hảng bảo hiểm sẽ không chi trả nếu người bệnh tự ý đi khám ở những bác sĩ ngoài mạng (out-of network). Việc phải trả co-payment hoặc deductible cũng là những hình thức buộc người bệnh phải tự hạn định mình trong việc đi khám bác sĩ hoặc chữa trị. Kế đến là hảng bảo hiểm từ chối không chi trả cho những sự chữa trị hoặc các dược liệu nào đó đối với bệnh nhân (như CT scan, làng răng gỉa, niền răng, chiropractice, thuốc mới…). Các bác sĩ chỉ có quyền đề nghị sự chữa trị hay các xét nghiệm; còn người quyết định cuối cùng trong mọi trường hợp, ngoài bệnh nhân ra, là hảng bảo hiểm với quyền chi trả của mình.

Ngay cả bảo hiểm của chính phủ, như Medicare hay Medicaid, cũng có sự hạn định nêu trên. Sự khác biệt là những hạn định của bảo hiểm chính phủ không vì mục đích kiếm lời, như của bảo hiểm tư nhân, mà thường là để dành một số dịch vụ nào đó cho những trường hợp cần thiết hơn.

Quan điểm cải cách của hai bên

a.-Những điểm chính trong kế hoạch của Obama

Nỗ lực đầu tiên đáng chú ý trong kế hoạch của chính phủ của TT Obama là tìm cách tạo một hệ thống bảo hiểm phổ quát để chấm dứt tình trạng về số lượng người không có bảo hiểm quá lớn hiện nay. Theo kế hoạch đó một cơ quan có tên là Health Insurance Exchange (HIE) sẽ được thành lập với nhiệm vụ thực hiện các cải cách y tế, bảo vệ giới tiêu thụ, thúc đẩy việc mua bảo hiểm, điều hành các tín dụng, giúp những người có lợi tức thấp và trung bình mua bảo hiểm. Chính yếu là HIE sẽ tạo ra một loại bảo hiểm y tế công cộng (public insurance option) do chính phủ điều hành với nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi, bằng tín dụng thuế và giá bảo hiểm rẻ, để cho những người hiện nay không mua nổi bảo hiểm, những người lợi tức thấp và các tiểu chủ (small business) có thể mua được bảo hiểm y tế với đầy đủ phẩm chất quy định. Vai trò đặc biệt của bảo hiểm công cộng là cải thiện mức cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm bằng cách trở thành đối trọng của hệ thống các công ty bảo hiểm tư nhân.

1.Kế hoạch cũng đề ra những biện pháp nhằm chấm dứt việc các hảng bảo hiểm tư nhân từ chối bán bảo hiểm cho một số người nào đó vì tình trạng sức khoẻ của họ, hoặc huỷ bỏ bảo hiểm vì những điều kiện bệnh lý trong quá khứ (pre-exising conditions) trước ngày ký hợp đồng bảo hiểm. Theo kế hoạch này thì lệ phí bảo hiểm (premiums) không được tăng cao vì các lý do sức khoẻ, tính phái; mà chỉ được biến đổi dựa vào tuổi tác, kích thước gia đình và vùng địa lý mà thôi.

2.Phẩm chất tiêu chuẩn: Một Uỷ ban Tư vấn (Advisory Committee) gồm các chuyên gia trong giới cung cấp dịch vụ y tế (providers), với sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ Y tế, sẽ soạn thảo một bộ tiêu chuẩn phẩm chất bảo hiểm tối thiểu (minimum quality standard) làm căn bản cho mọi hợp đồng bảo hiểm. Tiêu chuẩn căn bản  đó sẽ bao gồm các dịch vụ phòng bệnh miễn phí, các dịch vụ dành cho bệnh tâm thần, y tế đối với mắt và tai của trẻ em, cũng như ấn định giới hạn ở đó cá nhân hay gia đình phải trả thêm hàng năm cho co-payment và dedutible. Giới hạn việc trả out-of-pocket này là để tránh việc đẩy bệnh nhân vào tình trạng phá sản vì chi phí y tế khi gặp tai nạn hay bệnh nan y.

3.Một thang tín dụng thuế, gọi là scale affordability credits, sẽ được thiết lập để giúp giới nghèo có đủ khả năng mua bảo hiểm. Tín dụng đó khởi sự nhiều cho người nghèo và sẽ giảm dần theo mức lợi tức gia tăng; là zero đối với người có lợi tức cao hơn 43.000 dollars/năm (hoặc 88.000 dollars/ gia đình).
4.Mở rộng chương trình Medicaid: Những người có lợi tức bằng 133% mức nghèo khổ của Liên bang sẽ được hưởng một chương trình Medicaid mở rộng trong đó mức chi trả cho bác sĩ sẽ được gia tăng. Sự mở rộng chương trình Medicaid này hoàn toàn do Liên bang tài trợ. Chương trình Medicare của người già cũng sẽ được cải thiện.

5.Cá nhân nào tự ý không mua bảo hiểm y tế sẽ bị chế tài bằng 2.5% của mức lợi tức chịu thuế hàng năm (modified adjusted gross income, modified AGI).
6.Các công ty và chủ nhân có quyền chọn lưạ hoặc cung cấp bảo hiểm y tế cho công nhân mình theo phẩm chất tiêu chuẩn, hoặc không thì đóng tiền vào quỹ bảo hiểm cho công nhân với mức là 8% của mức lương. Những tiểu doanh nghiệp lợi tức dưới 250,000 dollars/ năm thì được miễn đòi hỏi bảo hiểm y tế cho công nhân. Những doanh nghiệp có lợi tức trên 250,000 dollars sẽ đóng 2% mức lương và doanh nghiệp có lợi tức 400,000 dollars trở lên sẽ phải đóng  8% cho bảo hiểm y tế đối với công nhân mình. Những tiểu chủ mua bảo hiểm y tế cho công nhân của cơ sở mình sẽ được hưởng tín dụng thuế.

7.Cuối cùng, kế hoạch đề ra thêm một số biện pháp nhằm cắt giảm chi phí của hệ thống y tế toàn quốc. Biện pháp đầu tiên là chú trọng nhiều hơn đến sự phòng bệnh. Kế đến là tìm cách loại trừ những lãng phí, sai sót và lạm dụng trong hệ thống; đặc biệt là giảm thiểu các sai sót y tế (malpractice) và những vụ kiện tụng liên quan đến vấn đề này. Sau cùng là tối tân hoá và giản dị hoá sự điều hành của hệ thống.

b. Các quan điểm đối lập

:

Có nhiều quan điểm đối lập được đưa ra dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng có thể vắn tắt tóm gọn vào 3 quan điểm chính sau

:

1.Trước hết, có một số quan điểm cho rằng kế hoạch cải cách y tế của chính phủ Obama là nhằm mục đích xã hội hoá nền y tế (socialized medicine); làm suy yếu kinh tế thị trường và tự do cạnh tranh vốn là tính chất đặc thù của xã hội Mỹ; và làm cho quyền lực của chính quyền Liên bang ngày càng lớn hơn, trái với truyền thống chính trị của người Mỹ. Người ta cho rằng sự can thiệp sâu của chính phủ vào lãnh vực bảo hiểm y tế sẽ làm giảm hiệu năng của nền y tế, hạn chế sự cạnh tranh lành mạnh,  vi phạm quyền tự do cá nhân và tạo thêm một bộ máy quan liêu ngăn trở người dân trong việc chọn lựa dịch vụ y tế thích hợp.

2.Bảo hiểm y tế công cộng (Public insurance option, hoặc Public option) do chính phủ điều hành, là một dạng khác của chương trình Medicaire, sẽ đặt thị trường y tế trong một môi trường cạnh tranh không công bằng, đẩy các công ty bảo hiểm tư nhân vào phá sản, và cắt giảm thu nhập của giới cung cấp dịch vụ y tế (bác sĩ và bệnh viện). Bảo hiểm y tế công cộng sẽ dẩn đến việc cắt giảm giá cả thị trường một cách tuỳ tiện, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực hơn là giải quyết vấn đề. Vì vấn đề hiện nay của hệ thống y tế không phải là vấn đề giá cả mà là vấn đề hiệu năng, và bảo hiểm công cộng, hay Public option, chẳng những không phải là giải pháp cho vấn đề hiệu năng (efficiency), mà trái lại còn tăng thêm sự quá lạm trong việc tiến hành chữa trị và điều hành của nền y tế. Những người chủ trương quan điểm này đã dẩn chứng chương trình Medicare như là một ví dụ điển hình của sự thất bại của gỉai pháp bảo hiểm y tế công cộng do chính phủ điều hành.

3.Phí tổn cho kế hoạch là quá lớn. Mối quan tâm lớn nhất là chi phí lớn lao do việc thực hiện kế hoạc cải cách y tế sẽ tạo ra. Dự trù ban đầu là sẽ mất 1,000 tỉ dollars trong 10 năm. Đó là một chi phí lớn trong tình hình kinh tế suy thoái nặng nề và nợ nần chồng chất của nước Mỹ hiện nay. Theo lời của Dân biểu Quốc hội, bác sĩ Charles Boustany, thuộc đảng Cộng Hoà thì kế hoạch cải cách của chính phủ sẽ tăng thêm hàng trăm tỉ dollars nợ cho cả nước, người dân phải trả thêm chừng 600 tỉ dollars tiền thuế, chương trình Medicare sẽ bị cắt giảm khỏang 500 tỉ, tất cả để có kinh phí trang trải cho kế hoạch cải cách do chính phủ đưa ra. Phí tổn lớn lao đó sẽ là gánh nặng tài chánh cho các thế hệ tương lai.

Cùng với mối quan tâm về kinh phí cho kế hoạch cải cách, có một số người cho rằng việc cải cách y tế chưa quá cấp bách, trước mắt cần nổ lực vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, việc cải cách y tế nên được hoãn lại.

Trên đây là các quan điểm chính chống lại kế hoạch cải cách y tế của chính phủ Obama đưa ra. Những quan điểm đó đã gợi dẫn những phản bác như sau:

1.-Việc xem xã hội hoá y tế như là một điều xấu xa và đồng nhất nó với hệ thống xã hội chủ nghĩa là sai, không có căn cứ. Trước hết, hệ thống y tế các quốc gia tân tiến khác ở Âu Châu cho thấy rằng việc xã hội hoá y tế không có gì là xấu, và không nhất thiết phải đi ngược với bản chất của nền kinh tế thị trường hoặc làm giảm sút sự cạnh tranh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trái lại, chính nhờ phần nào vào việc xã hội hoá nền y tế như Pháp, Nhật, Đài Loan, Canada, Anh quốc v.v… mà nhiều quốc gia có được một hệ thống y tế lành mạnh, hiệu năng cao, phổ quát và chi phí thấp hơn hệ thống của Mỹ rất nhiều. Hơn nữa, tính chất đặc trưng của chế độ xã hội chủ nghĩa là sự công hữu hoá phương tiện sản xuất của toàn xã hội, chứ không chỉ là việc chính quyền tham gia vào việc điều hành một hệ thống bảo hiểm y tế không vì lợi nhuận (not-for-profit entity) mà vì lợi ích chung.

2.-Còn nếu hiểu xã hội hoá y tế là việc chính quyền đứng ra điều hành việc bảo hiểm y tế cho dân chúng thì từ mấy chục năm qua, một phần trong hệ thống y tế của Mỹ đã có sự hiện diện của sự xã hội hoá; các chương trình Medicare và Medicaid chính là thuộc về hình thái ấy và đã tồn tại suốt mấy thập niên qua, không tác hại gì đến sự tự do cạnh tranh của nền kinh tế.

Mục tiêu chính của sự chống đối là kế hoạch bảo hiểm y tế công cộng, Public option. Điểm đáng chú ý là sự chống đối kế hoạch đó không chỉ đến từ phiá những người của đảng Cộng Hoà, mà cả trong hàng ngũ đảng Dân Chủ nữa. Kế hoạch bảo hiểm công cộng này còn gặp phải sự chống đối mãnh liệt hơn cả chương trình Medicare trước đây, và là nguồn gốc chính phát sinh ra tất cả những sự chống đối khác, đa dạng hơn mà phạm vi hạn hẹp của bài viết này không thể đề cập hết.

Sự chống đối quyết liệt đối với Public Option tương đối không khó hiểu.Nhìn vào cơ cấu hệ thống hiện nay mọi người sẽ thấy ngay rằng, hệ thống các hảng bảo hiểm y tế tư nhân đã độc chiếm thị trường hơn 160 triệu khách hàng của những người trong hạng tuổi lao động suốt mấy chục năm qua. Xét từ góc độ kinh doanh thì đây là thị trường gồm những đối tượng ít rủi ro (low risk), và hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao (high return) nhất. Họ là những người có xác suất bệnh tật thấp, nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế ít hơn so với những người cao niên hay những người trong quân ngũ và cựu chiến binh, là những người thuộc về các chương trình Medicare và VA. Hệ thống bảo hiểm tư nhân, như vậy đã chiếm lĩnh từ hàng chục năm qua một thị trường béo bỡ nhất. Thị trường này đã mang lại những lợi nhuận khổng lồ, cho cả các hảng bảo hiểm lẫn các đại công ty chế tạo dược phẩm. Theo thống kê năm 2008, thì 5 hảng bảo hiểm y tế lớn nhất hưởng được trung bình mỗi hảng là 1.56 tỉ dollars tiền lời. Giám đốc của các hảng này có thu nhập trung bình là 15 triệu dollar/năm!  . Ngoài ra, sự hiện diện một đội ngũ hơn 47 triệu người, trong độ tuổi lao động, không có bảo hiểm là một yếu tố rất tốt để duy trì mức cầu cao , giúp các hảng bảo hiểm y tế luôn giữ được giá cả mong muốn. Việc đưa cơ quan bảo hiểm công cộng (public option), do chính phủ điều hành, vào trong thị trường này để làm đối thủ cạnh tranh, sẽ là một đe doạ nghiêm trọng, khó lòng chấp nhận được, đối với quyền lợi kinh tế của các hảng bảo hiểm y tế tư nhân. Đó là lý do sâu kín nhất của mọi phản ứng đối với Public option.

Những món lợi nhuận khổng lồ đã giúp các hảng bảo hiểm y tế có hấp lực rất mạnh đối với giới đầu tư (investors) ở Wallstreet, New York.Và cũng chính vì vậy mà các hảng bảo hiểm đó đang có khuynh hướng tập trung lại trong những tổ hợp lớn (consolidation) để gia tăng khả năng khống chế thị trường. Bằng chứng là có nhiều vùng địa lý rộng lớn chỉ có 2, 3 hãng bảo hiểm y tế cung cấp bảo hiểm cho nhiều triệu người; nghĩa là một khuynh hướng làm giảm thiểu cạnh tranh tự do.Điều ngạc nhiên là những người cổ vũ cho kinh tế thị trường và bảo vệ tự do cạnh tranh, đặc biệt là các chính khách ở Washington D.C., lại ít chống đối khuynh hướng độc quyền trá hình này của các hảng bảo hiểm hơn là chống lại kế hoạch bảo hiểm công cộng, public option, một kế hoạch có mục đích gia tăng cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm, của chính phủ hiện nay.

Một khiá cạnh đáng chú ý khác là sự vận động hành lang (lobby activity) ở thủ đô Washington liên quan đến công cuộc cải cách bảo hiểm y tế hiện nay. Theo Bloomberg thì có khoảng 3,300 lobbyists đang thường xuyên vận động các Dân biểu và Nghị sĩ cho vấn đề cải cách y tế; tính trung bình có 6 lobbyists cho một vị dân cử! Có 1,500 tổ chức vận động hành lang về y tế ghi danh, thông qua 10 công ty vận động hành lang chuyên nghiệp. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2009 giới vận động hành lang này đã chi hơn 260 triệu dollars cho hoạt động của mình.  Đa số nỗ lực vận động này đến từ phiá các công ty bảo hiểm y tế và công ty sản xuất dược phẩm. Điều đó cho thấy ai là người thật sự đang đứng đằng sau những chống đối quyết liệt hiện nay đối với giải pháp Public Option.

3.-Về vấn đề tổn phí lớn của việc cải cách y tế thì, cũng như mọi công cuộc cải cách khác, tốn kém là điều không thể tránh khỏi; nhất là với một cuộc cải cách có tầm mức lịch sử như lần này. Có thể nào chỉ vì ngại chi phí quá lớn lao mà trì hoãn, hoặc không tiến hành đúng mức, một sự thay đổi đã được thừa nhận là tất yếu? Chiến tranh Iraq, từ năm 2003 đến nay, tổn phí của công quỹ đến 864 tỉ dollars.   Còn chiến tranh ở Afghanistan cũng đã ngốn đến 227 tỉ dollars khác. Cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng vừa qua, gây ra do sự tham lam không giới hạn của giới tài chánh và sự đồng loã của chủ trương thả lỏng điều tiết, đã tiêu tốn của ngân sách Liên Bang hàng trăm tỉ dollars để chuộc (bailing out) các ngân hàng ra khỏi cảnh phá sản, cũng là một sự tốn kém không nhỏ. Cả ba chi tiêu vừa nói, gộp lại, gần gấp đôi dự chi cho việc cải cách y tế sắp đến.

Hơn nữa, nếu vì ngại chi phí lớn lao mà không cải cách hoặc trì hoãn cải cách thì hậu quả về mặt tài chánh không chừng còn tệ hại hơn. Hiện lúc này, năm 2009, chi tiêu y tế toàn quốc là 2.5 ngàn tỉ dollars, chiếm gần 17.6% tổng lợi tức quốc gia (GDP). Nhưng nếu không cải cách gì hết, và với đà này, thì chi phí y tế năm 2018 sẽ lên đến 4.4 ngàn tỉ dollars; nghĩa là sẽ tăng 1.9 ngàn tỉ dollars, gần gấp đôi dự chi cho cải cách, trong vòng chưa đầy 10 năm!  Có thể thấy ngay rằng lý do tổn phí lớn là không vững vàng.

Cuối cùng, còn có vài câu hỏi tuy đơn giản, nhưng quan trọng, laị bị chìm khuất trong các tranh luận, có ít cơ hội xuất hiện trên diễn đàn Quốc Hội cũng như trên các phương tiện truyền thông; đó là: Chăm sóc y tế là vấn đề đạo đức hay vấn đề kinh tế? Và chăm sóc y tế có nên trở thành một quyền của con người trong xã hội hay không? Hy vọng rằng những vấn đề này sẽ được đề cập đến rộng rãi hơn trong tương lai. Bởi vì chỉ có giải quyết xong những vấn đề đó thì nước Mỹ mới thật sự có một nền y tế tương xứng với vai trò quốc tế của mình.

Ngay khi những dòng cuối này đang được viết ra thì số phận của dự luật cải cách y tế vẫn chưa rõ ràng. Hìện dự luật đang được giao cho Tiểu ban Tài chánh Thượng Viện thảo luận, nhưng tin mới nhất cho biết là nỗ lực thoả hiệp của TNS Max Baucus, người đứng đầu “ Gang of Six” đang gặp phải sự phản đối, không chỉ từ phiá các nhà lập pháp đảng Cộng Hoà mà ngay cả, của đảng Dân Chủ. Dự định của TT Obama để ký một đạo luật lịch sử về cải cách y tế trước cuối năm nay, như vậy, không biết có tựu thành hay không? Đành chờ xem!

© http://www.danchimviet.com 2009


Thư Mục:
  The Healing of America, T.T.Reid, Penguin Press, New York 2009.
  WHO, the World Health Report 2000.
  http://en.wikipedia.org/wiki/Taxation_in_the_United_Kingdom
  http://en.wikipedia.org/wiki/Comparison_of_Canadian_and_American_health_care_systems.
  Health Affairs, May/June 2001.
  http://www.presscenter.org.vn/en/content/view/924/89/.
  Susan Adam, Vietnam healthcare system, IMF-Hanoi, 2005.
  http://www.moneyandmarkets.com/health-care-war-35069.
  http://patients.about.com/od/empowermentbasics/a/iom-err.htm.
  http://www.cejkasearch.com/compensation/amga_physician_compensation_survey.htm
  House Committees on Ways and Means, Energy and Commerce, and Education and Labor, July 14,2009.
  http://www.pbs.org/newshour/bb/health/july-dec09/health_09-02.html.
  http://www.familiesusa.org/assets/pdfs/health-reform/why-a-public-plan-is-important.pdf.
  http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601070&sid=aqMce51JoZWw.
  http://www.costofwar.com/.
  http://www.nchc.org/facts/cost.shtml.

.

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Bia Miệng chúc mừng năm mới đến quý độc giả. Mọi sự như ý.

 

 
 

Kính chúc quý vị khỏe như cọp để nuôi dưởng lý tưởng TỰ DO

"Không ai lấy thắng bại luận anh hùng" Nhìn về quá khứ một chút để vươn tới trong tương lai

 

 

VẤN ĐỀ NÔ-LỆ XƯA VÀ NAY

Nguyễn Quý Đại

Chúng ta nếu có dịp trở về thăm Singapore, Indonesia, Malaysia phải chạnh lòng ngao ngán thấy những cô gái Việt Nam trẻ đẹp ăn mặc hở hang đứng đường làm nghề buôn hương bán phần. Họ đến đây trong những hoàn cảnh khác nhau, tìm chồng ngoại quốc vì hoàn cảnh gia đình…nhiều cô tuổi vị thành niên bị bọn buôn người lừa dối, hứa hẹn giúp cho đi học nghề, nhưng thật ra đến nơi bị khống chế bởi bọn má mì và du đảng ép buộc làm nghề “đi khách”.

 Lịch sử nô lệ

 Lịch sử về nô lệ có trước thời trung cổ, đầu tiên ở đảo Sizilien miền Nam Ý (136-132 trước Công nguyên) nô lệ trao đổi với Đế Quốc La Mã có các danh từ “Eunus, Antiochos”.. … Những cuộc chiến đẩm máu trong lịch sử thế giới thường xảy ra. Phe chiến thắng chiếm đoạt tài sản và sinh mạng kẻ bại trận, kể cả đàn bà, trẻ em đều bị bắt làm nô lệ. Giới quý tộc bỏ tiền mua người nghèo về phục vụ. Cách đây hơn 100 năm ở Việt Nam những Điạ chủ giàu có, muốn bảo vệ gia trang, mua hay mướn những người Thượng phục vụ, gác nhà….

Tác phẩm Geschichte der Sklaverei/ History of Slave “Lịch sử nô lệ” tác giả Sunsanne Everett mô tả cuộc đời người nô lệ thời Trung cổ, từ Á sang Âu đã có phong trào mua bán nô lệ, các dịch vụ chở nô lệ bằng tàu buồm hay áp giải vượt sa mạc Sahara. Trung Hoa có hàng triệu cô gái bị bán làm nô lệ. Giáo chủ Hồi Giáo Mohammed (570-†632) cầm đầu giáo quyền năm 630 đánh chiếm Mecca. Những người chống đối (Do Thái giáo, Thiên chúa giáo) đều bị tiêu diệt, hàng ngàn đàn ông bị chém đầu, đàn bà bị bắt bán làm nô lệ! Trận chiến thành Troy, Hy lạp (Greeks) xua quân đánh chiếm thành Troy cuả Thổ Nhĩ Kỳ tiếp thu chiến lợi phẩm và bắt những người đẹp như: Briseis, Tecmessa và Chryseis…

 Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) từng có chợ nô lệ Sandal Bedesten, tiểu vương Mehmet xây cất từ năm 1461 tại Istanbul. Chợ nô lệ người Hoà Lan tổ chức ở New Amsterdam (ngày nay là New York). Những thương thuyền lớn người Anh, Bồ Đồ Nha, Tây Ban Nha mua người da đen, thổ dân ở Phi Châu (Neger) làm nô lệ, vì giống người nầy đời sống kém văn minh nhưng có sức mạnh.

 Thị trường mua bán thời đó phần lớn ở Hoa Kỳ cần người làm việc tại các đồn điền, nông trại, trồng miá, hái bông vải, kéo xe, đào mỏ.. Thương thuyền Âu Châu chở vũ khí, máy móc, rượu, hàng hoá biến chế rẻ tiền bán cho Phi Châu, và ngược lại mua “người” từ Phi Châu bán cho Hoa Kỳ, và mua của Hoa Kỳ nguyên liệu hàng hóa, bông vải, đường, caffe …

 Kiếp người nô lệ khổ đau, bị cưỡng ép lao động như trâu bò kéo cày, bị đánh đập, hành hạ, nếu chống lại chủ thì bị xiềng xích, đóng gông. Người bỏ tiền mua nô lệ dùng thỏi thép nung đỏ, đóng dấu trên lưng họ để nhận dạng nếu bỏ trốn.  Đức giáo Hoàng Greogor I (540-†604) đã từng kêu gọi Thế giới ngưng mua bán nô lệ, phải tôn trọng phẩm giá con người mà Thượng Đế đã tạo dựng, không phân biệt màu da sắc tộc…dù Đức Giáo Hoàng kêu gọi nhưng chưa đánh động được lương tâm của thế giới vì con người đầy tham vọng và quyền lực. Từ Thế kỷ 16 đến Thế kỷ 18 hơn 15 triệu người Phi Châu bị bắt bán làm nô lệ, dù ông William Lloyd Garrion từng đứng lên đòi giải phóng cho người da đen. Hiệp Hội chống lại chế độ nô lệ “Anti Slavery Society” trên báo (The Genius of Universal Emancipation) đấu tranh giải phóng nô lệ. Thế Kỷ thứ 18 đế quốc Anh chiến thắng Tây Ban Nha, Hiệp Ước Asiento năm 1713 Anh Quốc độc quyền mua bán nô lệ, mỗi năm 5000 người ở Trung và Bắc Mỹ là các nước thuộc điạ của Tây Ban Nha.

 Chấm dứt nô lệ ở Âu Châu

 Trải qua những biến đổi lịch sử từ 01. 01.1807 Anh Quốc cấm mua bán nô lệ, nếu thương thuyền vi phạm bị phạt tiền vạ 100 Bảng Anh và bỏ tù. Đại Hội Quốc Tế ở Wien/ Vienna 1815 (Áo) các quốc gia phải bỏ chế độ nô lệ: Bồ Đồ Nha / Portugal năm 1817, Pháp và Hòa lan năm 1818. Ba Tây / Brasilien 1826 được độc lập và chấm dứt nô lệ. Ở Âu Châu năm 1820 việc buôn bán nô lệ cáo chung. Hiến pháp Đức ghi đìều 1 đoạn 1 “nhân phẩm con ngưòi bất khả xâm phạm”. Chỉ còn ở Hoa Kỳ kéo dài một thời gian, nội chiến Hoa Kỳ máu của những người nô lệ đổ nhiều và từ đó chế độ nô lệ cũng được giải phóng ở nhiều tiểu bang.

 Năm 1860 Abraham Lincoln (1809 -†1865), được bầu làm Tổng Thống thứ 16 Hoa Kỳ, từ năm 1862 người nô lệ được giải phóng ở các thành phố phiá Đông, đến năm 1867 theo điều 13 Hiến Pháp Hoa Kỳ từ ngày 18.12..1865 chấm đứt chế độ nô lệ. Tổng thống Lincoln từng nói: “Vì không muốn làm một kẻ nô lệ nên tôi cũng sẽ không làm chủ nô lệ. Điều này diễn đạt ý tưởng của tôi về Dân Chủ. Bất cứ điều gì khác hơn thế, dù khác ít hay khác nhiều, đều chẳng phải là dân chủ..” Lần đầu tại New Orleans người nô lệ được tham gia bỏ phiếu.. Năm 1965 mục sư Tin lành Martin Luther King (1929 -†1968) người nhận giải Nobel hòa bình năm 1964. tiếp tục đấu tranh cho sự bình đẳng của người da đen ở các tiểu bang Montgomery, Alabana .. .

 Thời đại văn minh tiến bộ, chế độ nô lệ không còn phổ biến như xưa, Quyền lực không còn là phương tiện tuyệt đối bắt người làm nô lệ, nhưng thế lực đồng tiền vẫn là phương tiện vô biên cho đến nay. Dựa trên một số tài liệu, thì việc buôn người là một kỷ nghệ trị giá lên đến 40 tỉ đô la? Chợ nô lệ được trá hình dưới nhiều hình thức khác nhau, bọn gian thương khai thác triệt để, là món hàng không vốn, đắc giá nhất bởi vậy nạn buôn người và nô lệ vẫn tồn tại ở thế kỷ thứ 21. Công Ước Genève ngày 25. 09.1926 về việc ngăn cấm, phòng ngừa và trừng phạt mọi hình thức mua bán nô lệ. Từ trước đến nay thế giới đã có hàng chục Công ước, Hiệp định bổ túc cấm nạn mua bán, khai thác nô lệ trong các lãnh vực cưỡng bức trẻ em lao động, mại dâm vv…Thời đệ nhị thế chiến, quân đội Nhật Bản đã bắt đàn bà Đại Hàn làm nô lệ sinh lý. Mặc dù chính phủ Nhật đã xin lỗi Đại Hàn, nhưng vết mực đen đau thương cho thân phận đàn bà Đại Hàn còn sống sót khó có thể phôi pha

 Theo tổ chức Quốc Tế Di Dân trụ sở tại Genève cho biết hàng năm có khoảng từ 250.000 đến 300.000 trẻ em đàn bà từ khối Sô Viết bị bán qua các nước Tây Âu. Quỹ Bảo Trợ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) tổng kết hàng năm trên thế giới đến 2 triệu trẻ em bị mua bán về tình dục, riêng các nước Á Châu (Campuchia, Lào, Miến Điện, Thái lan và Việt Nam ) người Việt chiếm một phần nửa? buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ cho ngành mại dâm dưới nhiều hình thức khác nhau. Nếu muốn hạn chế, kiểm soát chặt chẻ ngăn chận buôn bán người, phải cần sự hợp tác của nhiều quốc gia trên thế giới.

 Nô lệ mới

 Việt Nam trải qua nhiều khổ đau vì chiến tranh tàn phá. Năm 1945 gần triệu người miền Bắc chết đói, nhưng không có người Việt nào rời bỏ quê hương. Năm 1975 người ta vui mừng thống nhất đất nước, chấm dứt chiến tranh đem lại thanh bình cho dân tộc. Niềm vui chưa trọn hàng trăm ngàn quan chức chế độ VNCH bị bắt tập trung cải tạo, những năm dài trên cao nguyên núi rừng từ Nam ra Bắc, đời sống trong các trại cải tạo đọa đày giống như người dưới thời nô lệ! Những tù nhân chính trị may mắn còn sống, Từ năm 1990 được chính phủ Hoa Kỳ nhận qua chương trình H.O. (Humanitarian Operations), “tù nhân nô lệ” được giải phóng. Tổng Thống Lyndon Bainer Johnson (1908-†1973) năm 1965 nhắc lại thời kỳ còn nô lệ ở Hoa Kỳ “tự do chưa đủ.. vết thương nô lệ từ trăm năm qua chưa thể lành được..”

 Hòa bình hơn 3 thập niên, tưởng đất nước yên vui “đổi mới” kinh tế phát triển thì xã hội phải văn minh, tốt đẹp hơn, nhưng nhìn lại thân phận đàn bà Việt Nam trở thành món hàng giải trí rẻ tiền cho thiên hạ. Dù với hình thức kết hôn, nhưng thực tế đàn bà VN bị bán cho những đàn ông ngoại quốc dốt nát, ít học, bệnh hoạn… nhiều bài báo đã viết về trường hợp nầy. Những đàn ông ở xứ họ không thể tìm ra vợ hoặc muốn tìm người giúp việc nên họ để dành tiền, vàng sang Việt Nam tìm đàn bà. Xã hội Trung Hoa còn ảnh hưởng phong kiến trọng Nam hơn Nữ, sinh con gái họ đã vức ra đường như con vật chả ai để ý tới (tuần báo Stern của Đức đã lên án và chụp hình hài nhi là con gái bị bỏ bên đường), gây ra nạn trai thừa gái thiếu, nên họ đổ xô đi tìm vợ VN

 Thận phận đàn bà Việt Nam

 Trường hợp rao bán phụ nữ Việt Nam trên Internet của ebay Taiwan gây dư luận về việc buôn người bất hợp pháp vi phạm nhân quyền, phẩm giá phụ nữ Việt Nam bị tổn thương. Tin này gây dư luận ở Đài Loan. Các Hội Nữ Quyền ở Mỹ, Úc và người Việt Nam tị nạn đều phản đối, nhưng Hội Phụ Nữ Việt Nam ở quốc nội vẫn im lặng?

 Gia đình và xã Hội

 Sài Gòn hiện nay là thành phố đông dân hơn 8 triệu người. Dù số thống kê chưa chính xác, nhưng người ta ước tính trong số 8 triệu người Sài Gòn có hơn 1 triệu người từ các vùng quê nghèo đến Sài Gòn mưu sinh. Trong số dân nhập cư này, đa phần là phụ nữ, họ vào Sài Gòn với giấc mơ đổi đời, nhiều người mưu sinh bằng những việc lương thiện, đánh đổi mồ hôi để kiếm ăn hàng ngày, cũng nhiều người bị đưa đẩy vào đường tội lỗi. Những tệ hại và khốn nạn với dịch vụ “chợ buôn người” dưới dạng “lấy chồng ngoại quốc”. Ở Singapore mấy thiếu nữ Việt Nam ngồi trong những phòng kính để khách qua lại lựa chọn như một món hàng ở khu thương mãi

 Thân phận gái quê lên thành phố cũng nhiều đắng cay, vì nhẹ dạ bị dụ dỗ bán qua biên giới Trung Hoa, Campuchia, Lào, Thái… để làm việc. Nhưng thực tế phần lớn họ bị lừa, buộc nạn nhân phải làm việc trong các động mại dâm. Đời sống lặng lẽ như những chiếc bóng, những chiếc bóng chờ một ngày trôi qua khi màn đêm buông xuống ra đường sống kiếp phù du…

 Hơn 100 ngàn phụ nữ Việt nam làm dâu xứ người, có bao nhiêu người hạnh phúc? ngôn ngữ phong tục là bức tường ngăn cách! nhiều cô bị bỏ đói, đánh đập, phục vụ sinh lý cho cả gia đình, sống bơ vơ xứ người phải bán mình như nàng Kiều! làm việc nhà từ sáng đến tối như người nô lệ. Chúng ta phải chạnh lòng và tủi nhục cho thân phận đàn bà Việt Nam xấu số, mời theo dõi phóng sự tại Đài loan :

 Một số phụ nữ Việt lấy chồng Hàn Quốc đã tự tử, hoặc bị đánh tới chết mà nhiều vụ được kể trên báo chí đã gây xúc động cho dư luận mấy năm qua. Theo một bản tin của báo Anh ngữ Korea Herald ngày 23 tháng 12 năm 2009, chỉ kể từ tháng 11, 2006 là thời gian cơ quan này được thành lập cho đến hết tháng 10, 2009 tin trên tường thuật, 40.4% các người gọi cầu cứu là phụ nữ Việt Nam (28,417 lần gọi). Các quốc gia trên thế giới xuất cảng máy móc, hàng hoá.. Sau năm 1975 nhà cầm quyền Việt nam “xuất khẩu lao động” sang các nước thuộc khối Xã Hội Chủ Nghiã Đông Âu để trả nợ chiến tranh. Nhưng chủ trương đó đến nay không ngừng mà còn tiếp tục xuất cảng người ra các vùng Đông Nam Á như Đại Hàn, Mã Lai, Nhật Bản, Singapore, Hồng kông, Nam Dương và cả các nước Á Rập…

 Việt nam với tài nguyên giàu có “rừng vàng bể bạc”, không thiếu nhân tài, giới trẻ góp sức phát triển xây dựng một nước hùng mạnh, phú cường, không thua gì Nhật hay Đại Hàn, nhưng tiếc thay nhà nước không chú trọng đến việc khai thác nhân tài. Người Việt phải đi lao động xứ người thật khổ, làm những việc mà người bản xứ chê, bị kỳ thị, cô lập, đánh đập, trường hợp một số người lao động tại Mã Lai gặp khó khăn, không rành ngoại ngữ, họ lảnh lương không đúng hợp đồng, lý do là phía Việt Nam xuất khẩu lao động chỉ tìm cách đưa nhiều người sang để kiếm tiền, mà không chú ý tới các điều kiện lao động Theo Cục quản lý Lao động ngoài nước của CSVN, hiện có hơn 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 quốc gia trên thế giới. Ở một số nước mới có người Việt lao động bắt đầu từ năm 2005 như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn và Mã Lai thì ngoại tệ chủ yếu tập trung chuyển về những khu vực nông thôn. Đây là những thị trường “xuất cảng lao động” lớn của VN. Năm 2010 sẽ có đến 85.000 người chính thức đi lao động… Tâm sự của một công nhân làm việc ở Malaysia:

 “Do là các công ty của mình ở nhà, cứ đưa đẩy người sang để mà lấy phần trăm, cứ đưa người sang ào ào nhưng công việc lại chẳng đâu vào đâu cả. Bức tranh lộn xộn về lao động xuất khẩu Việt Nam, không chỉ tại Malaysia mà còn ở nhiều nước khác, cho thấy sự phối hợp và quản lý của các cơ quan chủ quản là rất yếu, nếu không muốn nói tới tình trạng đem con bỏ chợ. Thế cho nên những người lao động Việt Nam, vỡ mộng làm giàu nơi xứ người, giờ đây không biết bấu víu vào đâu. … ”

 Ngoại tệ chuyển về VN hàng năm tăng liên tục và tăng rõ rệt trong 10 năm qua. Năm 2000 được 1 tỷ USD, năm 2001 tăng lên 1.5 tỷ USD, năm 2002 lên hơn 2 tỷ USD, năm 2003 2.6 tỷ USD, năm 2004 3.8 tỷ USD, năm 2005 lên gần 4 tỷ USD, năm 2006 nhảy vọt lên 5.2 tỷ USD, năm 2007 lên trên 6 tỷ USD và năm 2008 đạt kỷ lục 7.2 tỷ USD. cuối tháng 12 năm 2009 lượng kiều hối chuyển về VN chỉ được 6.283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Nhìn lại 19 năm qua, từ khi những đồng tiền đầu tiên của Việt kiều được gửi về VN qua đường chính thức kể từ năm 1991, đến nay con số này đã vượt quá 30 tỷ USD chiếm hơn 70% số vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) tính từ năm 1988 và cao gấp rưỡi nguồn vốn Viện Trợ Phát Triển Kinh Tế (ODA – Official Development Assistance) được giải ngân từ năm 1993.(Năm hết Tết đến tính sổ kiều hối với CSVN Trần Việt Trình )

 Đời sống Việt nam ngày nay đua theo vật chất, nguời có quyền lực thì giàu sang, các đại gia, công tử tiền tiêu không hết thành phố Hà Nội, Saigon không thiếu các loại xe đắt giá nhất thế giới như: Rolls Royce, Mercedes, BMW.. người nghèo thì nghèo tận cùng xã hội, nghèo rớt mồng tơi! Thế hệ trẻ không nhìn thấy tương lại, nhiều gia đình muốn con mình ra nước ngoài làm việc, mong thu nhập cao hơn để giúp gia đình theo kinh tế thị trường…Bọn buôn người nhờ thế lực bao che, tổ chức đưa người ra nước ngoaì. Tại các nước Đông Âu (trước kia thuộc khối xã hội chủ nghiã) đã từ bỏ thiên đường cộng sản, nhưng lề lối làm việc còn ảnh hưởng dưới thời cộng sản, kẻ hở luật pháp chưa được tôn trọng, nhiều đường giây buôn người. Nhiều người ở quê nhà tưởng sang xứ người dễ làm giàu, nhờ bản tính cần mẫn siêng năng! bán tài sản ruộng vườn để đủ tiền nợp cho các dịch vụ ra nước ngoài làm việc, đến Nga và từ đó sang Ba lan, Tiệp Khắc… hy vọng tìm đời sống như ước mơ. Đến nơi những gì hưá hẹn trở thành hư ảo, đứng trước hoàn cảnh nan giải tiến thối lưỡng nan, bị đem con bỏ chợ “hết xôi rồi việc” tiền đã bỏ tuí bọn buôn người lẫn trốn .. Nhiều người bơ vơ không giấy tờ hợp pháp phải sống chui rúc làm đủ các thứ việc, đồng lương bị bóc lột, trở thành nô lệ kêu trời không thấu. Mùa đông ở Âu Châu giá lạnh nhưng ở cảng Calais các khu rừng Téteghem, Grande Synthe, Angres bên Pháp có nhiều người Việt Nam sống bất hợp pháp chịu cảnh đói khổ mong tìm một nơi nương tựa có việc làm gởi tiền về trả nợ bên quê nhà ….

 Theo loạt bài phóng sự “người rừng” của ông Huỳnh Tân đăng trang http://thongtinberl in..de/diendan/ latnguaconbai, authuanvietnam. htm. Mùa đông năm nay khá lạnh đôi khi nhiệt độ -20 độ C. Chúng ta phải thông cảm nỗi khổ của những người lẫn trốn trong rừng vì đói lạnh, thiếu vệ sinh lo sợ bị ức hiếp … Họ là nạn nhân bị các tổ chức buôn người hứa hẹn tìm kiếm công ăn việc làm, với lương cao 5000€ hàng tháng,(chú thích: tiền lương nầy chỉ những người tốt nghiệp đại học làm lâu năm chưa trừ thuế, lao động VN không rành ngôn ngữ, không nghề nghiệp không có giấy phép làm việc, nếu người ta thuê làm lậu thuế tốt bụng lắm họ trả tối đa 5€ một giờ). Những người sống ở các khu rừng biên giới Pháp, chờ cơ hội để nhảy xe tải sang Anh tìm việc! Sau cơn khủng hoảng kinh tế không riêng gì ở Anh mà các quốc gia khác cũng không tránh được nạn thất nghiệp gia tăng. Nếu may mắn vào được nước Anh không phải dễ tìm được việc làm hợp pháp! Tương lai là những ngày dài đen tối, tâm sự của “người rừng” được gởi gắm qua những dòng thơ buồn man mác, đọc hết bài thơ dài tôi không thể cầm được nước mắt , Họ là nạn nhân có thể chết đói, chết lạnh giữa xã hội văn minh dư thừa vật chất!

 Người Việt ở Campuchia

 Nội chiến Kampuchia năm 1975, Khmer đỏ do Pol Pot lãnh đạo (thân Trung Quốc) chiến thắng, giết hàng triệu người vô tội phơi xương trắng ruộng đồng. Năm 1979 chính quyến CSVN đưa quân đội giúp Heng Samrin chống lại Pol Pot & đóng quân cho đến 1989. Trong thời gian trên nhiều người Việt được sự bảo trợ của quân đội sang lập nghiệp, tại Phnom Penh và các thành phố, làng mạc khác. Ngày nay nhiều du khách Tây Phương đến thăm Angkor kỳ quan thế giới tráng lệ. Xứ Chùa Tháp nhưng đời sống hổn độn, đạo đức suy đồi, ở đâu cũng có quán bia ôm, những động mại dâm ở Svay Pak là những em gái vị thành niên phần lớn người Việt Nam đến từ các tỉnh phiá nam. Tệ nạn mại dâm do tổ chức buôn người về vùng quê Việt Nam dụ dỗ con gái nhà nghèo sang Campuchia làm việc có nhiều tiền hơn, đến nơi bị bán trinh cho người Tàu và buộc làm việc tiếp khách mua vui, công việc kinh tởm, không đạo đức vi phạm nhân quyền. Trường hợp cô Sina Vann tên thật là Nguyễn Thị Bích, quê ở Cần Thơ. Năm mười ba tuổi, Nguyễn Thị Bích bị một bà hàng xóm gạt dẫn sang Kampuchia, bán vào động mãi dâm. Cô được tổ chức Somaly Mam Foundation cứu thoát.. Tháng Mười năm 2009, Sina Vann đến Hoa Kỳ để nhận giải thưởng Frederick Douglas vì nổ lực tự phục hồi bản thân và quyết tâm chống nạn buôn người mà cô từng là nạn nhân.

 Đần năm 2010 hãng AAP (Australian Assciated Press) cho biết tổ chức The Grey Mann trụ sở ở Brisbane đã cứu thoát được 2 em bé Việt Nam bị bắt làm nô lệ tình dục, không biết còn bao nhiêu trẻ em đang phải sống kiếp người nô lệ của điạ ngục trần gian. Chúng ta nếu có dịp trở về thăm Singapore, Indonesia, Malaysia phải chạnh lòng ngao ngán thấy những cô gái Việt Nam trẻ đẹp ăn mặc hở hang đứng đường làm nghề buôn hương bán phần. Họ đến đây trong những hoàn cảnh khác nhau, tìm chồng ngoại quốc vì hoàn cảnh gia đình…nhiều cô tuổi vị thành niên bị bọn buôn người lừa dối, hứa hẹn giúp cho đi học nghề, nhưng thật ra đến nơi bị khống chế bởi bọn má mì và du đảng ép buộc làm nghề “đi khách”.

 Nhìn lại lịch sử Việt nam qua các Triều đại các đấng nữ nhi như hai chị em Bà Trưng bà Triệu, Cô Giang, Cô Bắc đã làm vang danh lịch sử giống nòi.. Ngày nay đàn bà Việt Nam phải bán thân khắp nơi làm nô lệ! Trẻ thơ Việt Nam bị đọa đày, ai là người quan tâm khi đang còn mãi mê, sa đoạ, vơ vét cho đầy túi tham hãy thức tỉnh nhân tâm giải phóng cho tuổi thơ Việt Nam! chấm dứt vi phạm nhân quyền… cựu Tổng thống George.W. Bush đã tuyên báo : “Chúng ta phải chứng tỏ sức mạnh mới trong việc chống lại một tệ nạn cũ. Gần 2 thế kỷ sau khi dẹp bỏ nạn mua bán nô lệ, và hơn một thế kỷ sau khi chế độ nô lệ bị chính thức khai tử ở các cứ địa cuối cùng của nó, không thể để cho nạn mua bán người vì bất cứ mục đích nào nẩy nở trong thời đại của chúng ta.”

 Là người Việt ở khắp nơi trên thế giới cũng như trong nước, chúng ta phải làm gì cho một dân tộc sớm thoát khỏi cảnh nghèo đói lạc hậu? chấm dứt trình trạng buôn người “nô lệ”. Năm mới Canh dần hy vọng ánh sáng đến đẩy lui bóng tối đang bao phủ quê hương nước Việt

 Tài liệu tham khảo

Geschicthte der Sklaverei tác giả Susanne Evertt NxB Becchtermünz

 Hình đời nô lệ trên Internet

%d bloggers like this: