QUẢNG NAM HAY CÃI

QUẢNG NAM HAY CÃI

Lê Thứ Lang

Không biết chính xác được điểm xuất phát, nhưng suốt một dọc dài các tình Nam, Ngãi, Bình, Phú, Quảng Trị, Thừa Thiên, từ xưa đến nay vẫn hay phổ biến câu phương ngôn:
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay co…
Mới nghe qua “Quảng Nam hay cãi” chỉ là một câu nói vui, thực ra “nó” làm phiền dân Quảng Nam chúng tôi không phải là ít.
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
Trong các cuộc họp mặt nói chuyện tào lao lúc trà dư tửu hậu, hay trong các hội nghị nghiêm chỉnh có cờ xí, bục thuyết trình v.v..hễ cứ người phát biểu nói giọng Quảng Nam thì y như rằng luôn luôn bị phán một câu:
_Ối chà! Hơi đâu mà nghe thằng cha đó! Quảng Nam hay cãi mà! Bộ ông không biết sao?
Hồi mới qua Dallas đây được ít tháng, anh em tụi tôi dự định thành lập một cái hội chi đó để thỉnh thoảng gặp gỡ, an ủi, giúp đỡ nhau giữa những người cùng cảnh ngộ mới chân ướt chân ráo đến Mỹ.
Trong buổi họp sơ thảo điều lệ hội, một ông bạn tôi, người “Bắc Kỳ” 100%, nhưng vào sống ở Quảng Nam từ hồi 9, 10 tuổi, làm việc ở Quảng Nam, lấy vợ đẻ con ở Quảng Nam, thậm chí ở tù cũng Quảng Nam luôn, ông bạn này đề nghị là nên thu nguyệt liễm hay niên liễm của hội viên để hội có chút quỹ điều hành công việc lại vừa có ý nghĩa là những người đóng nguyệt liễm là hội viên chính thức của hội – Ý kiến cũng không sai quấy lắm, ấy thế mà một cadidat chủ tịch Hội, cũng là một anh Quảng Nam “Origine” phang cho một câu:
-Ối chà! Hơi sức đâu mà nghe lũy. Quảng Nam hay cãi mà! Tôi còn lạ chi.
Ác chưa! Đúng là “kê một cái tủ đứng” vô họng người phát biểu. Còn chi nữa mà “ngôn”! Nghe đâu bây giờ cái hội đó kẹt tiền. Quyên góp hoài cũng kỳ mà Mạnh Thường Quân thì cứ rơi rụng dần như lá mùa thu…cho nên hội có dự định thu tiền nguyệt liễm của hội viên. Chỉ thương hại cho ông bạn tôi, người Bắc rặt ròng, phải cái tội ở Quảng Nam lâu quá, nói giọng Quảng Nam nên bị “kết án” oan mà cũng đành chào thua, bỏ cuộc.
Hay như cụ Ảo Giản Phan Ngô, hồi còn làm nghị viên Hội Đồng Đô Thành dưới thời Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương của ông tướng râu kẽm. Cụ Phan Ngô phát biểu trong một cuộc họp Hội Đồng có ông tướng tham dự, bị ông tướng “ém” cho một câu:
-Thôi đi, dân Quảng các anh cứ “théc méc”. “Théc méc” hoài ai chịu cho nổi!
Bực quá, Phan tiên sinh “cãi” lại bằng mấy bài trên báo, ông tướng phải vội vàng công khai xin lỗi.
Rứa đó, “Quảng Nam hay cãi” nó “hành” tụi tôi không phải là ít.
“Cãi” có phải là đặc tính của người Quảng Nam không?
Cái này cũng cần phải thảo luận, nhưng theo tôi thì tùy loại “cãi”.
Tôi phân biệt hai loại cãi khác nhau mà tôi tạm đặt là “cãi tiêu cực” và “cãi tích cực”.
Cãi tiêu cực: tuy mang tiếng là tiêu cực nhưng người tham gia loại cãi này lại có thái độ cãi rất tích cực: phùng mang trợn mắt, lên tay xuống ngón, sùi bọt mép, nổi gân cổ, đỏ mặt tía tai…cãi để dành cái hơn về cho mình, không cần lẽ phải, không cần sự thật..bất cần, bất cần miễn người đối thoại câm miệng là được. Kết quả của loại cãi này là vô tích sự, không đem lại sự thật, không đem lại lẽ phải, không giải quyết được gì hết, có khi còn u đầu, sứt trán, tốn tiền thuốc, tiền “bail” – nghĩa là một kết quả rất tiêu cực nên gọi là cãi tiêu cực.
Xin nêu một ví dụ:
Tôi có ông bạn khá thân, học với nhau từ 9, 10 tuổi. Mọi mặt, hai đứa tôi đều sàn sàn như nhau: tôi thi trung học đệ nhất cấp 5 lần mới đậu, thì ông ấy thi 4 lần. Tôi mang cái lon “cánh gà” (trung sĩ) 4 năm thì ông ấy cũng 4 năm mới được 3 chữ V. Tôi được 15 chữ tiếng Anh thì ông ấy được 16 chữ. Tôi qua mỹ HO 10 thì ông ấy HO 9 trước tôi 1 tháng…đại khái là như nhau, cá mè một lứa. Chỉ khác chút xíu là ông bạn tôi có vài bà chị qua Mỹ từ năm 1975 và do đó có vài đứa cháu nghe đâu là bác sĩ, kỹ sư hay tốt nghiệp đại học Oklahoma chi đó. Ấy thế mà mọi thứ gì dính dáng đến Mỹ, ông bạn nầy nhất định phải hơn hẳn tụi tôi, chỉ bằng hoặc thua các ông tiến sĩ thực thụ đậu ở Mỹ này thôi. Ví dụ:
-Cái nào? Chiếc xe Mỹ phải không?
-Thì cái Ford 89 đó!
-Rồi! Hư bộ “sạc” đó. Mua bộ mới đi!
-Trời ơi! Tôi mua bộ sạc mới, cách đây một tuần chứ mấy!
-Ông cứ cãi. Đã không biết thì phải im nghe! Thằng cháu tôi là kỹ sư mà tôi lại không biết hơn ông sao?
Ông bạn khốn khổ của tôi đi mua một bộ “sạc” khác mới toanh, hì hục ráp vào và xe vẫn…tắc tịt. Đành kéo ra shop, tốn thêm gần 200 đồng nữa xe mới chịu nổ.
Một lần khác:
-Này, sao thằng cháu tôi bảo lãnh vợ con nó gần 4 năm rồi mà vẫn không có kết quả?
-Trời ơi! Dốt quá! một năm thôi. Đó là luật.
-Tôi chưa thấy có người nào bảo lãnh một năm mà…
-Cũng cứ cãi! Cháu tôi nó làm ở tòa đại sứ Mỹ tại Bangkok chẳng lẽ tôi không biết hơn ông à? Vợ chồng là ưu tiên 1, ông rõ chưa? Đã không biết lại hay cãi…
Một lần khác nữa:
-Này, hôm qua thằng chủ nó hỏi ai có test 1 thì đưa tay. Ông chưa qua test 1 sao đưa tay?
-Dốt quá ông ơi! Để tôi giải thích cho mà nghe. Chữ “tec” nó nói là “technician” nói tắt. Mình là technician 1 thì phải đưa tay chớ.
-Sai! Mấy thằng Mỹ làm với mình cũng là technician 1 hết sao nó không đưa tay?
-Khổ quá! Tụi nó là “trainee” thì sao nó lại đưa tay được.
-Bậy, tụi nó cũng tech 1 hết. Vào một lần với tụi mình, chính tôi coi bảng tên nó mà!
-Trơi ơi! Dốt ơi là dốt! Ông qua Mỹ sau tôi làm sao ông nghe tiếng Mỹ bằng tôi được? Lại nữa, con cháu tôi là bác sĩ, ông hiểu chưa?
Ấy, đã giở cái “chiêu” đó ra thì không hiểu cũng phải ráng mà hiểu. Còn “théc méc” vào đâu được nữa!
Nhưng trong các cuộc “thảo loạn” kiểu này mà bạn ngồi im, không có ý kiến thì cũng không được. Bạn có thể chụp mũ là khinh người, là ngạo mạn, là v.v..
Gặp loại cãi tiêu cực này, thái độ nào của bạn cũng “kẹt” hết. Chỉ có một cách “kính nhi viễn chi” là thượng sách.
Cũng may, loại “cãi tiêu cực” này thì ở đâu cũng có, chẳng riêng gì Quảng Nam. Bằng cớ: miền Bắc có từ “cãi chày cãi cối” hay cãi bựa.
Miền Nam có từ “cãi bạt mạng” hay cãi hoảng cãi tiều”…để chỉ loại cãi ẩu này.
Cái tích cực: đây là loại cãi của những người tích cực. Những người muốn làm sáng tỏ một vấn đề, muốn bảo vệ chân lý hoặc bảo vệ những cái mình cho là đúng. Loại cãi này biểu hiện bằng nhiều cách: một ý kiến xây dựng, một bài báo ngắn, một bài tham luận dài, nhiều khi chỉ cãi bằng một thái độ, một cử chỉ không lời hoặc một câu nói bóng gió.
“Phong thái cãi” của loại cãi này thường rất tieu cực tức là không phùng mang trợn mắt, không sùi bọt mồm bọt miếng..nhưng kết quả lại rất tích cực vì làm sáng tỏ được một vấn đề, làm nổi lên lẽ phải, tức là dùng nhiều cách để bảo vệ và phát huy chân lý.
Quảng Nam mang tiếng là hay cãi, tôi nghĩ, chính loại này. Nó thể hiện tính ngang bướng. Hay nói văn hoa, đao to búa lớn một chút: nó thể hiện tính khẳng khái bất khuất, nghe điều chướng tai, thấy điều gai mắt, không chịu được, phải bày tỏ ý kiến, dù cái chướng tai gai mắt đó xuất phát từ những kẻ có quyền thế bao nhiêu đi nữa cũng không kiên nể, e dè.
Khẳng khái bất khuất là đức tính chung của người Việt Nam từ Nam chí Bắc, nhưng loại cãi tích cực này thì ở Quảng Nam thấy rất nhiều.
Chẳng hạn bữa tiệc thịt chó của Tiểu Phủ Sứ Ông Ích Khiêm.
Cử nhân võ Ông Ích Khiêm, người làng Phong Lệ, Hòa Vang, Quảng Nam, được phong Tiểu Phủ Sứ vì có công bình định mọi Thạch Bích, Quảng Ngãi.
Là một ông quan võ ngay thẳng, cang trực, Ông Ích Khiêm bị nhiều vị ô lại trong triều đố kỵ. Nhân một dịp tất niên, Ông Ích Khiêm thết các vị đại thần một bữa tiệc thịt chó cực ngon. Toàn thợ thịt chó thứ “xịn”, nấu rất khéo, các quan ăn đã đời mà vẫn chưa biết là món gì.
No say rồi, các đại thần thân mật hỏi Ông Ích Khiêm:
-Hôm nay quan Tiểu đãi tụi tôi món gì mà ngon quá rứa?
Cụ Tiểu cười cười, nhũn nhặn thưa:
-Dạ bẩm các quan, cũng những món thường thôi!
Hỏi năm lần bảy lượt cụ Tiểu mới rụt rè đáp:
-Dạ bẩm, mâm lớn, mâm nhỏ, từ trên xuống dưới toàn là chó hết.
Các quan giận đỏ mặt.
Ông Ích Khiêm còn dặn người nhà không được mang thức uống ra. Phải đợi các quan khát đến rã họng và phải đợi gọi đến lần thứ 5, gia đình mới tà tà dâng trà giải khát. Vừa thấy người nhà mang thức uống ra, Ông Ích Khiêm lấy roi quất túi bụi, vừa quất, vừa mắng:
-Tụi bây đúng là một bầy chó, lo ăn mà chẳng lo chi NƯỚC hết.
Đó là kiểu cãi của một ông quan võ.
Còn như cụ Trần Quý Cáp.
Lúc đang làm đốc học Khánh Hòa, cụ Trần tham gia phong trào “cự xâu kháng thuế” của nông dân Nam-Ngãi-Bình-Phú cùng với các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.
Rõ ràng là ba cụ đã tổ chức và điều hành một cuộc “cãi lộn” vĩ đại chống lại chính sách xâu thuế của thực dân Pháp và triều đình Huế chớ còn chi nữa.
Vì vậy, triều đình ra lệnh cho tuần vũ Khánh Hòa (tên Q.) điều tra thẩm vấn cụ Trần.
Q. xuất thân là một anh thông ngôn cho Pháp được quan thầy nâng đỡ bò lên làm tuần vũ Khánh Hòa, thượng cấp của Tiến Sĩ Trần Quý Cáp. Trong cuộc thẩm vấn Q. nói với cụ Trần:
-Ông coi chừng! Tôi cách cái chức Đốc Học của ông đó!
Cụ Trần cười nhạt nhưng lễ phép thưa:
-Quan lớn cách được cái đốc học của tôi chớ làm sao cách cái tiến sĩ của tôi được?
Đem cái tiến sĩ đọ với bằng thông ngôn nịnh bợ của tuần vũ Q. cụ Trần còn ngụ thêm một ý nữa: Quan lớn cách cái đốc học của tôi được, thậm chí cả mạng sống của tôi quan lớn cách luôn cũng dễ, nhưng tấm lòng của tôi đối với dân tôi, đối với nước tôi thì quan lớn, và ngay cả quan thầy của quan lớn nữa, làm sao có thể cách đi được?
Chân lý đã được phát huy bằng một câu nói ngắn, gọn, đơn giản và dễ hiểu quá chừng.
Đó kiểu cãi của một ông quan văn. Và ở Quảng Nam, một tay cãi tiêu biểu nổi danh khắp nước là nhà văn Phan Khôi, cây bút cộc trụ của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội những năm 1956-1957.
Đã có một thời, trên làng văn, làng báo từ Nam chí Bắc xuất hiện cụm từ “Lý luận Phan Khôi” để khen ngợi những bài văn, bài báo đanh thép rành mạch, khúc chiết của bất cứ người viết nào.
Cụ Phan Khôi cãi bằng những bài báo, những bài thơ, những chuyện ngắn, truyện ngụ ngôn…đủ mọi hình thức, mọi thể tài và cái vai trò “Ngự Sử trên đàn văn” của cụ đã góp phần rất lớn làm tiếng Việt thêm trong sáng, chính xác và hay ho lên nhiều lắm.
Quý vị hiện nay đang ở tuổi “cổ lai hy” chắc hẳn không thể nào quên được phong trào sùng bái, tôn thờ truyện Kiều do cụ Thượng Phạm Quỳnh chủ xuống và cổ xúy. Tập Kiều, vịnh Kiều, diễn thuyết về Kiều…thậm chí cụ Thượng Phạm còn nói một câu để đời: “Truyện Kiều còn tiếng, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn!”.
Ai chả biết truyện Kiều là một danh tác bất hủ của Văn Học Việt Nam? Nhưng hình như ý của cụ Thượng Phạm là muốn tầng lớp thanh niên trí thức hãy quên thực trạng mất nước lúc đó để chỉ lo chuyên tâm ca ngợi, sùng bái truyện Kiều mà thôi. Thâm ý đó bị cụ Huỳnh Thúc Kháng và cụ Ngô Đức Kế cực luận rằng một cái nhà mà móng đã lún, mái dột, cột xiêu thì đem cây kiểng, non bộ, hoành phi, câu đối chưng lên, liệu có thể cứu cái nạn khỏi đổ được không? Cụ Thượng Phạm đã sử dụng một phương sách khá hay để đáp lại các bài công kích của Thanh Nghị. Đó là phương sách “vô chiêu thắng hữu chiêu”: im lặng không trả lời. Rõ ràng hai cụ Huỳnh, Ngô đã xuất chiêu đánh vào một bức tường bằng…không khí.
Đến đây, nhà văn Phan Khôi lại phải ra tay hóa giải chiêu thức vô chiêu của cụ Phạm Quỳnh, ông viết một bài nhan đề “Các nhà học phiệt” phân tích thật kỹ thái độ im lặng của cụ Thượng Phạm. Ông đưa ra hai lý do giải thích sự lặng thinh của cụ Thượng:
-Lý do thứ 1: cụ Thượng khinh cụ Huỳnh và cụ Ngô mà không thèm trả lời.
-Lý do thứ hai: cụ Thượng vì “bí” mà không trả lời được. Rồi ông phân tích thật kỹ lý do thứ nhất để dẫn tới kết luận là cụ Phạm Quỳnh không thể và không dám khinh cụ Huỳnh và Ngô, bởi lẽ, xét về mọi phương diện, cụ Thượng chỉ thua hoặc bằng hai cụ Ngô, Huỳnh mà thôi.
Cụ Phan không nói gì đến lý do thứ 2, nhưng ai đọc “Các nhà học phiệt” cũng hiểu ngay rằng sở dĩ cụ Thượng Phạm không trả lời chính vì lý do thứ 2: BÍ!
“Vô chiêu” bị hóa giải ngay. Cụ Phạm Thượng viết một bài trần tình đăng trên Nam Phong Tạp Chí và phong trào sùng bái truyện Kiều rơi dần vào quên lãng. Dư luận văn giới và báo giới từ Nam chí Bắc lúc đó đều phải đồng thanh công nhận rằng: chỉ có Phan Khôi mới đủ tài làm cho “con chuột nhắt đẻ ra trái núi”. (Vũ Ngọc Phan, nhà văn Hiện Đại)
Một vụ “cãi lộn” tuyệt vời nữa của cụ Phan Khôi, mà cho đến nay sau hơn nửa thế kỷ rồi mọi người vẫn còn nhớ mãi, đó là cuộc bút chiến nẩy lửa về Duy Tâm và Duy Vật với nhà văn CS Hải Triều Nguyễn Khoa Văn. Hải Triều, mặc dù đã tận dụng mọi thủ thuật cao cường nhất của Duy Vật biệt chứng pháp, vẫn không chống đỡ nổi lý luận chặt chẽ, vững vàng của cụ Phan Khôi, một nhà thâm Nho nhưng rất am hiểu luận lý học Tây Phương.
Rồi cụ tranh luận về thơ mới và thơ cũ giữa một bên là phái thơ Đường do thi bá Tản Đà dẫn dắt và một bên là phái thơ Mới do Thế Lữ, Lưu Trọng Lư…Cụ Phan Khôi không tham gia cuộc tranh luận này bằng những bàn nghị luận – vốn là món sở đắc của cụ, nhưng bài Tình Già của cụ làm theo thể thơ mới chính là ngón đòn quyết định đem lại toàn thắng cho thơ Mới. Vì vậy có người cho rằng Tình Già là bài thơ mới đầu tiên khai sinh phong trào thơ Mới Việt Nam.
Và vụ “cãi” cuối cùng đưa cụ Phan Khôi tới cái chết là vụ phê bình sự lãnh đạo dốt nát của đảng CSVN đối với văn học nghệ thuật miền Bắc hồi năm 1956-1957. Cụ Phan Khôi cho rằng lãnh đạo như kiểu CS thì chẳng bao lâu nữa trong vườn hoa Văn Nghệ Việt Nam ‘hằng trăm thứ hoa cúc đều nở thành cúc vạn thọ hết”. Sự thật đúng y chang như lời cụ nói. Mới đây Lê Ngọc Trà (tiến sĩ, tốt nghiệp ở Liên Xô cũ) đã lên tiếng thú nhận rằng: “Nền văn học VHCN ở Việt Nam là một nền văn học thiếu tự trọng.”
Không những chỉ “cãi” về sự lãnh đạo thô bạo của đảng đối với văn học nghệ thuật mà thôi, trái lại, rải rác trong Giai Phẩm Mùa Xuân, Giai Phẩm Mùa Thu…cụ Phan Khôi còn thẳng thừng phê phán, chỉ trích sự lãnh đạo “ngu ngốc, u mê của CS Việt Nam đối với mọi sinh hoạt chính trị, xã hội của đất nước (Phê Bình lãnh đạo văn nghệ, Ông Năm Chuột, Ông Bình Vôi, Nắng Chiều v.v…)
Trong “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” cụ Phan Khôi còn thẳng thắn, công khai phản đối việc ông Xuân Diệu vừa làm ban giám khảo, vừa làm thí sinh trong “Giải Thưởng Văn Học Miền Bắc năm 1955”.
Biết chắc CS sẽ thẳng tay khủng bố, cụ Phan Khôi vẫn ngang bướng:
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao
Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi!
Rốt cuộc, cụ bị cắt hết tem phiếu và ít lâu sau thì chết vì lạnh và thiếu ăn.
Đó, “Quảng Nam hay cãi” là như vậy.
Đây chính là một lời khen và chắc người Quảng Nam sẽ vẫn mãi mãi tự hào về tính “hay cãi” của mình. Nhất là hiện nay, tại quê nhà, đồng bào ta đang bị chi phối, đang bị cai trị bởi những nghị quyết và những luật lệ không được phép cãi, chúng ta lại cần phải trau dồi hơn nữa tính hay cãi của mình để góp phần đem lại công đạo, công lý, công bằng cho đồng bào ta, đem lại cho đồng bào ta quyền được cãi, tức là quyền được bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến bản thân mình và đất nước mình. Vả lại, tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, “cãi” vẫn luôn luôn là một thứ vũ khí sắc bén, lợi hại mà bất cứ bạo quyền nào, dù đỏ hay xanh, dù vàng hay trắng, cũng đều phải e dè, kiêng nể.uy

 

ANH LÀ AI?

KỊCH : NẺO NGUỒN HỒI TƯỞNG

GARDEN GROVE (NV) – “Sau 6 năm làm công tác xã hội, tôi nhận ra rằng những kiến thức trong nhà trường Mỹ không thể áp dụng đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, bởi vì cộng đồng này trải qua những thăng trầm đặc biệt.

  Ðồng hương tập dợt cho hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng.” (Hình: Nguyễn Hữu Quỳnh Trâm cung cấp)

Tôi muốn đi tìm nguyên nhân làm cho cộng đồng mình không đoàn kết, không phát triển hay bị lấn cấn, không tiến tới được cũng không thoái lui được. Cuối cùng tôi tìm ra được mẫu số chung, đó là vấn đề ký ức tập thể.”

Sinh viên tiến sĩ Nguyễn Hữu Quỳnh Trâm của đại học University of Tilburg, Hòa Lan, chia sẻ cùng phóng viên Người Việt về hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng” có liên quan đến luận án tiến sĩ mà cô đang thực hiện, sẽ được trình diễn vào chiều Chủ Nhật, 21 tháng 8, tại Thư Viện Việt Nam, 10872 Westminster Ave., Suite 214 & 215, Garden Grove, CA 92843.

Theo sinh viên tiến sĩ Quỳnh Trâm, kịch nghệ là phương tiện để tìm sự đồng cảm giữa người xem và người diễn kịch. Hội kịch là một phương pháp mới, không giống như phương pháp xưa nay là phải có sân khấu và khán giả ngồi dưới nhìn lên, mà ở đây có sự sinh hoạt tác động qua lại giữa người xem và người diễn kịch. Tiếng Mỹ gọi là “forum theater.” Những người diễn kịch này cũng không phải là diễn viên chuyên nghiệp.

Theo Quỳnh Trâm, hội kịch là phương pháp cô đã nghiên cứu trong vòng 5 năm nay, bao gồm ba ngành công tác xã hội, khoa học xã hội, và khoa học nhân văn gộp lại.

Hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng” gồm 3 vở kịch nhỏ, nội dung trong đó bao gồm, “thứ nhất là nói đến những vấn đề đời thường hàng ngày. Qua đó đưa ra những vấn đề có tầm mức cộng đồng, tức là ai cũng có thể nhìn thấy mình trong vở kịch đó. Thứ hai là vấn đề khác biệt trong văn hóa Ðông-Tây, văn hóa Việt-Mỹ. Thứ ba là những khác biệt giữa 3 thế hệ người Việt nơi đây.” Cô Quỳnh Trâm cho biết.

Năm 1984, lúc 22 tuổi, Quỳnh Trâm đã là một thuyền nhân. Ký ức về hành trình vượt biển cùng 41 người trên một chiếc ghe trong mùa mưa bão, máy hư, không nước uống, đã cho cô những kinh nghiệm sống chết quý báu, để khi đặt chân đến Mỹ năm 1985, cô tâm niệm “cần phải làm điều gì đó để phục vụ cho mọi người và nhất là cho cộng đồng người Việt hải ngoại.”

Tốt nghiệp cử nhân rồi sau đó là cao học về thương mại, tâm lý học, và hoạt động xã hội. Sau nhiều năm làm việc với cộng đồng Việt Nam tại Los Angeles liên quan đến những vấn đề như vấn nạn thuốc độc, cần sa, ma túy, băng đảng, cố vấn gia đình, bảo vệ trẻ em, Quỳnh Trâm nhận ra một điều là “những điều mình học được trong nhà trường, nhất là về những vấn đề mô thức trị liệu tâm lý, không hề phù hợp với suy nghĩ, tâm lý, tâm linh của người Việt Nam mình.”

Quỳnh Trâm nhận xét: “Những phương thức trị liệu của người Mỹ không áp dụng được cho người Việt Nam vì cộng đồng Việt trải qua những thăng trầm đặc biệt, nó là vấn đề thuộc về lịch sử cộng đồng. Chính vì vậy tôi phải đi tìm nguyên nhân gì đã làm cho cộng đồng mình không đoàn kết, không phát triển hay bị lấn cấn, không tiến tới được cũng không thoái lui được, đó là cái gì. Cuối cùng tôi tìm ra được mẫu số chung đó là vấn đề ký ức tập thể.”

Ðể giải quyết vấn đề này, theo Quỳnh Trâm, không thể theo những phương thức hàn lâm, “vì ký ức đôi lúc không có ngôn từ mà nó nằm trong thịt máu cơ thể con người, vì vậy mình phải dùng phương pháp nghệ thuật.”

Phương pháp nghệ thuật mà cô áp dụng “không có tính cách sân khấu kịch nghệ như phải có một đạo diễn như mình vẫn biết từ trước tới giờ.”

Tôi chỉ là người điều hợp, còn những cộng tác viên, thiện nguyện viên trong hội thảo ‘Tâm Tình và Hồi Tưởng Qua Chuyện Kể, Âm Nhạc và Nghệ Thuật’ ở hai Chủ Nhật vừa qua là đạo diễn của vở kịch của họ.”

Theo Quỳnh Trâm, đạo diễn là làm cho những người diễn viên đó ngồi lại với nhau, nhớ lại những hồi tưởng, những ngày tháng hành trình từ Việt Nam qua đến Mỹ. Từ đó bật mở ra những điều mà lâu nay họ không nói được với ai cả. Hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng” là những sáng kiến, những chiêm nghiệm nói về những sinh hoạt đời thường, những uẩn khúc, những đau đớn, và những sự thông cảm từ trong hội thảo, ra khỏi hội thảo, và hướng tới cộng đồng.

Trong cộng đồng Việt Nam, tiếng nói của nhiều người không được cảm nhận, không được cảm thông. Ðôi khi chỉ có vài tiếng nói mạnh, có chỗ đứng, có microphone, có tiếng nói được vang lên, trong khi có những tiếng nói âm thầm, uất nghẹn không nói ra được. Chính vì vậy, tôi muốn cho cộng đồng thấy là cách mới dùng kịch để nói chuyện với nhau.” Cô Quỳnh Trâm nói.

Cô kêu gọi: “Chúng tôi sẽ cố gắng làm hết sức mình và mong mọi người đến để tâm mở, tấm lòng mở, để cho thấy mình có trong đó và dùng sức mạnh tập thể để giải quyết vấn đề đời thường mà trên sân khấu kịch nghệ, ngay cả Thúy Nga Paris hay Aisa ít khi nào đưa ra.”

Hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng” cũng được nhiều tổ chức và cơ quan truyền thông trong cộng đồng bảo trợ.

Mọi thắc mắc xin liên lạc Quỳnh Trâm (714) 402-0921 hay (quynhtram@gmail.com), Hà Tiên (714) 206-2923 và Thanh Thúy (714) 260-1500.

BÓNG ĐÈ,ĐẢNG ĐÈ HAY TÀU CỘNG ĐÈ ?

TS. Phan Van Song

November 1, 20100 Bình Luận

Đáp ứng lời mời gọi của một anh bạn trong nước, yêu cầu mình ở hải ngoại đọc và bình luận tập truyện Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, đang là một best-seller trong nước.

Bóng Đè, tên tập truyện gồm 8 truyện ngắn của nhà văn nữ Đỗ Hoàng Diệu. Bóng đè là truyện thứ nhứt, được mang tên tập truyện, dài 33 trang, tác giả viết theo lối văn tự thuật của một phụ nữ vừa lấy chồng. Cô yêu chồng tha thiết, yêu chồng đam mê, yêu chồng tràn trề dục vọng, yêu và hút nhụy chồng mỗi đêm, vồ chồng, cào cấu chồng như “hổ cái”để rồi … mỗi buổi sáng cô nhìn chồng mà “tội nghiệp” (tr. 6). Người đàn bà đầy sức sống ấy cùng chồng về quê cúng giỗ cha chồng. Gia đình nhà chồng theo xưa, bàn thờ lớn dài, nhiều bát nhang cùng những bức trướng chữ Tàu khuất sau tấm màn đỏ. Hằng năm, gia đình nầy phải lo 16 lượt giỗ, nhưng khi làm cỏ mồ mả, cô mới khám phá ra chỉ có 11 mộ bia thôi, và cô cũng được biết gia tộc này có những cái chết oan ức, khủng khiếp: một bà cô em của ông bố hận tình trầm mình tự tử, không ai tìm thấy thi hài; hai ông chú đi biệt tích; hai ông khác, chỉ còn mấy đốt xương bằng đầu đũa được chôn chung một mộ; đặc biệt, ông nội bị đấu tố chết và ai đó đã ăn mất cái xác, chỉ còn sót vài sợi tóc bê bết máu vương trên chiếc cọc.

Tối đến, vì nhà thiếu phòng ngủ, hai vợ chồng phải nằm ngủ trên bộ ván dày – rất xưa, trải qua nhiều đời – kê trước bàn thờ, rồi trong đêm đó, cô vợ bị bóng đè! Bóng chẳng những đè mà còn hãm hiếp cô nàng. Bóng ấy thoạt đầu mơ hồ, lần lần hiện rõ hình một lão già Tàu tay dài chạm gối, đúng như lời người chồng từng hãnh diện kể về nguồn gốc dòng họ mình. Điều đặc biệt là cả nhà đều biết, anh chồng biết, bà mẹ chồng biết, cả cô em chồng cũng biết.

Câu chuyện chỉ có thế, nhưng nhiều ẩn dụ:

Cô vợ đầy sức sống kia phải chăng là nhơn dân Việt nam, dân chúng Việt nam, lấy anh chồng mà cô muốn, cô thèm khát … Sau chiến thắng Pháp và đánh cho Mỹ cút – theo như lời cộng sản rêu rao – dân chúng Việt nam có một số nào đó thèm khát hoặc bị bắt buộc phải lấy anh Đảng Cộng sản, một anh chồng đến “tội nghiệp “? Vì lấy chồng nên phải cúng giỗ tổ tông nhà chồng: 16 lần giỗ, sao lắm thế? Lễ Đảng cũng nhiều lắm! và các lễ cuối cùng nhục nhã là làm đại lễ 1000 Thăng Long để dâng đất cho dân Tàu (cả Trung Cộng lẫn Đài Loan).

Và lịch sử cũng như con đường đi của Đảng Cộng sản Việt nam chập chùng, không sao đếm hết chuyện chết người oan ức: người thì tự tử, kẻ đi mất tíchvà bị thủ tiêu, và bao trăm ngàn người chết vì đấu tố, có kẻ còn bị ăn thịt; anthropophagie? Ăn thịt người? Đảng Cộng sản là Đảng đã từng đấu tố và giết hại đồng bào mình, như vậy, không phải Đảng ăn thịt người thì là gì? Đảng Cộng Sản Việt nam anthropophage? Đúng quá! (tr.8)

Đêm về, cô vợ ngủ bị bóng đè: thoạt đầu mơ hồ, không rõ ràng (tr. 12/13), nhưng chắc chắn là cô bị hãm hiếp. Lần bị hiếp kế tiếp bởi một bóng đen hiện ra rõ ràng hơn (tr. 20/21) có: “tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô đanh ác đầy quen thuộc”. Rồi lần sau nữa, bóng hiện nguyên hình một lão già Tàu (tr. 23):”… Đôi mắt liếc xéo của những người đàn ông dòng dõi đế vương Trung Hoa “; (tr. 30): “… Nó mang trong mình dáng hình của một lão già Tàu nào đó đầy quyền uy…”. Lão già Tàu đầy quyền uy, Đảng Cộng sản Tàu?

Phải hiểu rõ ràng cô vợ nhơn dân Việt nam đang bị anh Tàu Đảng Cộng sản Trung quốc đè mà anh chồng Đảng Cộng sản Việt nam bất lực đồng lõa chứng kiến. Vì anh chồng biết, vì anh chồng nhìn thấy (tr.19): “… chồng tôi còn thức, hai tròng trắng ươn ướt trừng trừng”; (tr. 32): “… Anh mở mắt, anh chứng kiến, anh vờ như không có chuyện gì … “.

Bà mẹ chồng cũng biết, bà mẹ chồng là hình ảnh các cựu đảng viên Đảng Cộng sản Việt nam thức tỉnh, đốt nhang, như bàn tán, như la ó muốn xua đuổi mà vô hiệu, đành thở dài: (tr. 21):”… Mẹ chồng tôi phẩy lia phẩy lịa nắm nhang khắp bàn thờ như điên dại …”. Phải chăng những cựu cán bộ về hưu, phục viên, phát nhang gần như điên dại để cảnh giác anh chồng Đảng Cộng Sản Việt nam. Tuy nhiên, giống như bà mẹ chồng, phần nào vẫn còn đồng lõa vì quá tuân thủ nền nếp gia đình (nền nếp của chủ nghĩa Cộng sản quốc tế). Còn thế hệ trẻ, cô Thắm, cô em chồng, cũng đồng lõa, (tr. 8): “Chị cúi đầu xuống đi …”. Tóm lại, cô Thắm thế hệ Cộng sản Việt nam mới, sợ cô vợ nhơn dân Việt nam đặt lại vấn đề (thà mất nước không mất Đảng).

Còn nạn nhơn, nhơn dân VN, cô vợ?

Cô vợ, cũng như nhơn dân Việt nam? bị Syndrome de Stockhom, cô vừa gớm, vừa sợ, nhưng lại vừa ghiền, ghiền được hãm hiếp (tr. 34): “… Tôi biết mình bị hãm hiếp trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng, trước mặt chồng, nhưng tôi lại bồn chồn, mong nhớ, thậm chí khát thèm cái cảm giác ấy …”. Phải chăng những hiện tượng tình nguyện sắp hàng đi lấy chồng Trung hoa-Đài loan, Trung Cộng, là những syndromes de Stockhom? …

Phải, anh chồng Đảng Cộng sản Việt nam không bảo vệ cô vợ Nhơn dân Việt nam. Cô bị hãm hiếp rồi cô ghiền cảm giác bị hãm hiếp; mất Trường sa, mất Hoàng sa có sao đâu?! Mất vài trăm dặm vuông miền rừng núi, có sao đâu?! Mất một số lãnh hải, vài ngư phủ bị bắt, bị bắn, có sao đâu?! Tàu với Ta môi hở răng lạnh mà, vả lại, Trung quốc đã từng hết lòng bảo vệ Việt nam ta chống Mỹ cứu nước, cơ mà?!. Bà mẹ chồng, các cựu đảng viên mở mồm la lối, phản đối, đốt nhang xua đuổi nhưng chẳng đi đến đâu? Thế hệ trẻ, cô Thắm phải giữ truyền thống giỗ cho ra giỗ, cố giữ lấy lề.

Chỉ còn tý hy vọng: Mười ngón tay kỳ diệu của nạn nhơn, (tr. 36): “Bàn tay diệu kỳ không trọng lượng và cũng không chấp nhận, không đồng loã, không thoả hiệp mọi chuyện “… ngòi bút … ; … ly hôn … “Bàn tay mảnh dẻ cầm bút, bất lực với tự do đã nắm được ở đầu ngón tay nhưng bị trọng lượng thân thể buộc trói”. Phải chỉ có những bàn tay cầm bút, những văn nghệ sĩ, … những nhà đấu tranh dân chủ, Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài … những bloggers Điếu cày, Anh Ba, Mẹ Nấm… những Dương Thu Hương , những Hà Sĩ Phu, những Nguyễn Thanh Giang dám cầm bút, dám lên tiếng, viết nói… đứng lên, nhưng “bất lực với tự do đã nắm được ở những đầu ngón tay lại bị trọng lượng thân thể buộc trói “.

Chừng nào thân thể không còn trói buộc bàn tay nữa? Hỡi những bàn tay cầm bút, hỡi những bàn tay cầm búa, những bàn tay cầm liềm, những bàn tay kéo xe, những bàn tay mẫu tử săn sóc con thơ; đừng nuôi con chóng lớn để chúng phải làm cô dâu bị hiếp!

Chừng nào còn anh chồng Đảng Cộng sản Việt nam thì cô vợ nhơn dân Việt nam vẫn bị anh Tàu già Cộng sản Trung quốc hãm hiếp dài dài. Phải, (tr. 36) (bàn tay): “Nó đã thúc bách tôi ly hôn với Thụ (ông chồng). Vì nếu không “Chúng tôi (nhơn dân Việt nam) không biết chọn lựa (hay không được quyền chọn lựa), vì cơ thể chúng tôi (Nhà nước CHXHCN Việt nam) bị đòi hỏi những nhục cảm mà bóng tối (Đảng Cộng sản Trung quốc) ban phát … “(tr. 38).

Chừng ấy sẽ có ánh sáng (Cách mạng Dân chủ? Đa nguyên, đa đảng? Nhân quyền? Công lý? Pháp trị? …).

“Tôi đưa bàn tay mình ra sáng “. Đúng!: Phải đưa bàn tay của chúng ta ra ánh sáng. Và “Một bàn tay không béo gầy, không trọng lượng, chỉ có làn da mỏng tanh nhưng biết níu giữ TỰ DO cho dù thân thể buộc trói. Nắng tắt, mà bàn tay vẫn óng ánh diệu kỳ “(tr. 38).

Mong thay!

TS. Phan Văn Song

%d bloggers like this: