BẮT LUẬT SƯ CÙ HUY HÀ VŨ-MỘT SỰ TRẢ THÙ ĐÊ TIỆN


Nguyễn Tường Tâm (23:50 mùng 5-11-2010)

Theo bản tin của Vietnamnet cập nhật lúc 19:53 ngày mùng 5/11/2001, “lực lượng công an P.11, Q6, TP.HCM đã bắt giữ Luật sư (Ls) Cù Huy Hà Vũ trong khi kiểm tra hành chánh khách sạn Mạch Lâm, số 28, đường số 10, P11, Q.6.” Lý do bắt theo tờ báo là “trong phòng số 101 lực lượng công an đã phát hiện 1 đôi nam nữ… 2 bao cao su đã qua xử dụng… Người đàn ông cởi trần, chỉ mặc quần lót được xác định là tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ và người nữ được xác định là bà H.L.N.Q. (ngụ Q.6, TP.HCM, là luật sư thuộc Hội luật gia TP.HCM).” Nhưng theo ông Cù Huy Chử, chú của LS Hà Vũ nói với đài BBC ngày mùng 5/11, thì người phụ nữ này không phải luật sư mà có thể là nữ công an.Ông Chử nói tiếp, Đến 3 giờ sáng thì anh Vũ được gọi về công an phường 11 quận 6 và khám xét tại khách sạn, cũng như khám xét tại phường thì không có dấu hiệu nào chứng tỏ là anh Vũ có quan hệ gái mại dâm cả. Không có khẳng định được. Chính một trung tá công an nói lại với tôi ngay tại công an phường 11, quận 6.

Đọc qua hai bản tin trên, độc giả đã nghĩ ngay đây là trò trả thù đê tiện của giới cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Mới cách nay mấy tháng, công an Việt Nam đã từng bỏ súng vào hành lý của một vợ chồng Việt Kiều về thăm quê hương để buộc 2 người này phải khai là nhận mang vũ khí cho một Việt kiều thứ 3 mà họ không quen biết để lấy cớ bắt người Việt kiều thứ 3 kia về tội thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân, thì việc tìm cớ để xét nhà, bắt giam Luật Sư Cù Huy Hà Vũ là hành vi đê tiện không ai bị mắc lừa.

Giả dụ việc Ls Vũ và một người nữ bị bắt trong trường hợp như vậy là thật thì cũng không có gì là quan trọng. Nhiều lắm chỉ là một vi phạm hành chánh: “Nam nữ ở chung phòng trong khách sạn không có giấy hôn thú mà không phải vợ chồng.”

Thế nhưng phương cách xử lý của công an tiếp theo sau đó bằng việc cho cơ quan an ninh khám xét nhà của ông Vũ là một thái độ trả thù và đe dọa đê tiện. Bản tin viết, “Được biết, ngay trong chiều 5/11 công tác khám xét nhà của ông Vũ được cơ quan an ninh tiến hành tại Hà Nội.” Trong cuộc phỏng vấn ông Cù Huy Chử, chú của LS Hà Vũ của BBC ngày 5/11/2010, ông Chử cho biết, “Nhưng ở Hà Nội, công an Bộ đã đến nhà khám tại nhà anh Vũ. Theo tôi biết, tôi gọi điện cho vợ anh Vũ thì vợ anh Vũ cho tôi biết toàn bộ tác phẩm của Huy Cận, của Xuân Diệu và những thư tín của gia đình hiện nay bị lục tung ở tại nhà 24, Điện Biên Phủ.

Theo VnExpress.net ngày mùng 6/11/2010, đại tá Nguyễn Xuân Mừng, phó thủ trưởng Cơ quan An Ninh điều tra-Bộ Công An xác nhận rằng “sau khi bị tạm giữ hành chính, cơ quan chức năng phát hiện ông Cù Huy Hà Vũ có dấu hiệu phạm vào một tội hình sự khác nên đã ra quyết định bắt ông này để điều tra.” Cũng theo bản tin này thì dấu hiệu vi phạm tội hình sự đó được chính đại tá Mừng cho hay nguyên văn, “sau khi ông Vũ được mời từ khách sạn Mạch Lâm (quận 6, TP HCM) về công an phường làm việc vì có những vi phạm hành chính, cơ quan chức năng phát hiện ông này có nhiều tài liệu, thông tin được cho là có “dấu hiệu vi phạm hình sự” nên đã chuyển về Bộ công an. Cơ quan An ninh điều tra đã có lệnh tạm giữ hình sự.”

Qua các tin tức vừa nêu, người đọc có mấy câu hỏi:

-Chỉ bị mời về trụ sở công an phường về hành vi vu khống là chơi gái (vi phạm hành chính), làm sao công an phường có quyền khám xét máy vi tính và điện thoại di động của người bị bắt?

-Những dữ kiện trong 2 máy đó chỉ là những văn bản, và rất nhiều trang, làm sao công an phường có thể đọc tất cả các trang tài liệu đó nhanh như thế để quyết định những trang tài liệu đó có nội dung vi phạm luật hình sự?

-Chỉ công an cấp phường cũng có quyền xét đoán để quyết định tài liệu văn bản nào là vi phạm luật hình sự, tài liệu văn bản nào là hợp luật hay sao?

-Chẳng lẽ tất cả những cặp tình nhân không hôn thú bị bắt quả tang ngủ chung buồng trong khách sạn đều bị cơ quan an ninh khám xét máy vi tính, điện thoại di động, sách vở v…v của họ mang theo người hay sao? Những tài liệu trong đó có liên quan gì tới các hành vi quan hệ tình dục mà cần phải khám xét?

Hành động vô luật pháp của công an đối với Luật Sư Hà Vũ như trên cho thấy chế độ hiện nay tàn ác, gian xảo gấp vạn lần thời thực dân Pháp.

Ngoài đe dọa về mặt pháp lý với các áp dụng luật rừng như vừa nêu, cộng sản Việt Nam còn muốn làm nhục Luật Sư Cù Huy Hà Vũ và gia đình ông. Nhưng chắc chắn không ai bị lừa. Bởi vì cho dù chuyện tình cảm của LS Hà Vũ và người đàn bà kia là có thật thì cũng không phải là điều ảnh hưởng tới danh dự của các bên liên hệ. Thời buổi này, các liên hệ tình cảm ngoại gia đình là chuyện bình thường giữa các cá nhân liên quan, không ảnh hưởng gì tới phương diện đạo đức của người trong cuộc.

Ngay cả việc chơi đĩ (prostitution) cũng không phải là điều quan trọng. Đối với luật pháp thì nhiều lắm cũng chỉ là tiểu hình. Thường thì là tội vi cảnh (bị xử lý hành chánh). Tại nhiều quốc gia, làm đĩ còn được hợp pháp hóa nữa (mấy nước bắc Âu).

Đối với luật quốc tế và ngay cả luật Việt Nam, người chơi đĩ chỉ bị tội hình nặng nề nếu cô gái đĩ còn vị thành niên (dưới 18 tuổi). Về phương diện đạo đức, sẽ đáng phỉ nhổ, nếu người đàn ông lợi dụng quan hệ thầy trò để làm tình với học sinh của mình. Cả hai hiện tượng, chơi gái vị thành niên, và làm tình với học trò của mình, đều đã xảy ra quá nhiều tại Việt Nam. Mới đây, tháng 1-2010, tại tỉnh Hà Giang, có vụ “thầy” hiệu trưởng Sầm Đức Xương và vài viên chức lãnh đạo tỉnh ủy địa phương mua dâm với các trẻ vị thành niên là các học sinh của “thầy”. Thế nhưng các vụ đáng lên án như thế thì không thấy cơ quan an ninh vào cuộc. Trong khi cơ quan an ninh lại cố rình rập, hay là dàn dựng, vu khống, để bắt cho bằng được Luật Sư Cù Huy Hà Vũ.

Âm mưu của cộng sản Việt Nam muốn làm nhục Luật Sư Cù Huy Hà Vũ qua vụ dàn dựng này chắc chắn không thành công vì Cù Huy Hà Vũ lâu nay đã là một điển hình sáng chói của giới trí thức trong nước. Với gia thế “hoàng tộc cách mạng” của cả hai bên bố và mẹ ông, với tài học rất cao của ông so với giới trí thức trong nước, nếu ông chịu im lìm, nằm hả miệng ăn sung, thì chắc chắn thế nào cũng có nhiều bổng lộc, quyền cao chức trọng đến với ông. Nhưng Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã chứng tỏ không phải con người tầm thường. Ông quyết tâm từ bỏ tất cả “vinh hoa, phú quí” đang chờ đợi ông, để hy sinh tranh đấu cho nước Việt Nam thực sự Độc Lập trước ách Tầu Cộng, thực sự Dân Chủ trước ách độc tài đảng trị, và dân chúng thực sự no ấm trước ách bóc lột của bọn tư bản đỏ đang thao túng đất nước. Mục tiêu tranh đấu của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ quá rõ ràng và trong sáng. Bởi thế ông được cảm tình và sự ủng hộ của hầu hết dân chúng trong nước lẫn hải ngoại. Đồng thời ông cũng được nể trọng bởi nhiều cơ quan bảo vệ nhân quyền, và tự do báo chí trên thế giới.

Toàn thể mọi người có cảm tình và yêu quí ông bởi vì mục tiêu tranh đấu cho dân cho nước của ông, chứ không phải bởi vì ông có cuộc sống như một ông thánh. Tổng thống Bill Clinton của Hoa Kỳ, mặc dù có vụ tình ái lăng nhăng với cô sinh viên Lewinsky, nhưng vẫn được đa số dân chúng Hoa Kỳ và nhân dân trên thế giới , trong đó có cả nhân dân Việt Nam, yêu quí bởi vì tài năng xuất chúng của ông. Có chính trị gia Hoa Kỳ từng tuyên bố, “Tôi tranh cử làm tổng thống chứ không tranh cử làm ông thánh.” Quan niệm này hòan toàn thích hợp với Luật Sư Cù Huy Hà Vũ. Ông tranh đấu cho quyền lợi của dân của nước chứ ông không tranh đấu để được phong thánh. Bởi thế âm mưu muốn làm nhục Luật Sư Cù Huy Hà Vũ chắc chắn sẽ thất bại và chỉ cho thấy thái độ đê tiện của giới cầm quyền. Chắc chắn chính giới quốc tế và các tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền và quyền tự do dân chủ sẽ lên tiếng đòi hỏi chính quyến cộng sản Việt nam phải mau chóng trả tự do cho một biểu tượng sáng chói của giới trí thức Việt nam trong nước, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ.

NTT

Advertisements

ÔNG HÀ SĨ PHU TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA TALAWAS

Hà Sĩ Phu trả lời phỏng vấn của Talawas

1.

Thực ra “hệ trọng nhất” thì chỉ có một vấn đề (các điều hệ trọng khác đều ở cấp độ nhỏ hơn và phụ thuộc vào điều “hệ trọng nhất” này).

Đó là: Đảng Cộng sản kiên quyết sử dụng ảo tưởng Mác-Lê và giáo lý chính trị phản tiến hóa (tức phản động) trong chủ nghĩa không tưởng ấy làm bình phong bảo vệ cho vai trò độc tôn, cho những đặc quyền đặc lợi, cho sự tích lũy tư bản của tập đoàn, trong một xã hội đang tư bản hóa và hoang dã hóa mãnh liệt, không gì kiềm chế nổi. Các đối trọng vốn đã bị triệt tiêu nay mới đang trăn trở hồi sinh.

Từ đó sinh ra 5 vấn đề thực tế hệ trọng nhỏ hơn là:

  1. Đất nước chưa có quyền tự do báo chí và tự do lập hội.
  2. Chính phủ, quân đội, công an, và các tổ chức dân sự hiện nay đều có tính chất “giả hình”, không thật đúng với danh hiệu, vì thực chất đều là công cụ, là cánh tay nối dài của Đảng. Xã hội quyền lực song trùng, hệt như thời vua Lê chúa Trịnh mà nạn kiêu binh phù nhà Chúa là nạn công an.
  3. Về sở hữu: Dân không có quyền sở hữu trên mảnh đất mình ở, khác gì kẻ lưu vong trên chính quê hương mình, có thể bị đẩy đi bất cứ khi nào khi bị yêu cầu? Quyền sở hữu toàn mảnh đất hình chũ S bao la, tuy gọi là của “toàn dân” thực chất nằm trong tay những kẻ chiếm hữu quyền lực, như quyền của Hoàng triều đối với xã tắc vậy.
  4. Hiến pháp và luật pháp hiện nay vẫn là Hiến pháp và luật pháp của một xã hội Đảng trị độc quyền và tùy tiện.
  5. Đất nước không thanh bình. Nạn Bắc thuộc đang khẩn trương đe dọa. Đời sống vật chất và tinh thần của mọi người lao động (gồm cả công, nông và trí thức) vốn đã thấp lại tiềm tàng những bất ổn do giá cả không ngừng đi lên, đạo đức xã hội không ngừng đi xuống, văn hóa kỹ trị lai căng, thú tính lan tràn.

2.

Câu này tất nhiên nói để mà chơi: Trong 24 tiếng có quyền tuyệt đối, “trẫm” sẽ cởi trói, tháo gông ngay cho toàn xã hội, gồm 2 việc: một là long trọng tiễn đưa thiết chế Bộ Chính trị theo gương Thánh Gióng về “vui thú điền viên” như Chủ tịch Nguyễn Minh Triết mong mỏi, hai là tháo “vòng KIM CÔ Mác-xít chuyên chính” cho quân đội và công an, để hai lực lượng vũ trang ăn cơm của dân này này yên tâm chỉ trung thành phục vụ Tổ quốc và Nhân dân.

Sau 24 giờ đó, tất nhiên đương sự cũng về vui thú điền viên, nhưng lúc ấy có thể yên tâm rằng mọi việc đổi mới khác sẽ được tiếp tục, những người yêu nước yêu dân sẽ không còn bị kết tội, chỉ còn lo mình không đủ tài năng.

3.

2010: 5 vấn đề hệ trọng nói trên còn nguyên, đang có nguy cơ để Tổng Bí thư của Đảng được hợp thức hóa kiêm luôn Chủ tịch nước, để Bộ Chính trị trực tiếp nắm luôn cơ quan hành pháp, như mấy người nhẹ dạ mong muốn (đáng lẽ phải để dân bầu/ hoặc Quốc hội bầu/ Chủ tịch nước trước, một cách dân chủ, rồi nếu Đảng muốn cử người ấy làm Tổng Bí thứ thì đấy là việc của Đảng sẽ làm sau!).

2020: Những yếu tố tiến bộ trong xã hội tiếp tục phát triển, trong khi yếu tố độc quyền yếu dần, nên mâu thuẫn càng mạnh, ở tương quan giằng co. Mối tương quan với Trung Quốc cũng vậy.

2030: Con cháu của những người cộng sản nắm quyền cao đã thành tư sản hết, nắm những yết hầu kinh tế, Đảng sẽ công khai chấp nhận thể chế tự do tư sản, tự do cạnh tranh như mọi nước khác, và tuyên bố đây là thắng lợi của cách mạng vô sản. Tất cả những nhà tư sản lớn ấy đều là “vô sản” chân chính cả, vẫn đầy tự hào, không có gì phải xấu hổ. Ai còn đem luận điểm Mác-Lê ngày trước ra mà kêu ca, mà tranh đấu chống những nhà “vô sản-tư bản” bóc lột cỡ bự này lại bị quy là phản động. Con đường lộn vòng 180 độ này chính là thành tựu của thiên đường cộng sản đậm đà bản sắc Việt Nam. Nếu không có gì đột biến (tốt hơn hoặc xấu hơn) thì xác suất khả năng này là lớn nhất.

© 2010 Hà Sĩ Phu

ĐỨC TGM NGÔ QUANG KIỆT TỪ GIẢ GIÁO DÂN

VIẾT CHO LÊ THỊ CÔNG NHÂN

 Và quan trọng nhất là – xung quanh ta không thiếu những người giả vờ tốt – bởi nhiệm vụ và sự sinh tồn của họ buộc họ phải thế bạn à. Hẳn bạn hiểu điều này để lựa chọn cho mình một đôi giày thật hoàn hảo để “khiêu vũ giữa bầy sói” nhé bạn!”

LTS:  Ở xã hội Cộng sản hay ở cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại đều na ná , có những kẻ “giả vờ tốt” như Mẹ Nấm viết , những kẻ đó thật “tội” vì sự sinh tồn vì “đồng tiền làm mờ ám lương tri” . Nhóm chủ trương Bia Miệng đã chọn con đường để đi , con đường đó là chống lại sự dối trá, điêu ngoa, chống lại sự hèn mọn chỉ vì đồng tiền bất lương và danh ảo, chống lại những kẻ giả vờ chống cộng .Con đường chúng tôi đi chắc chắn là khó nhưng không khó và nguy hiễm bằng những con người xứng đáng trong nước .

Mẹ Nấm

5/03/2010

 Bạn thân mến,

Mình viết những dòng này để chúc mừng bạn trở lại với không gian đầy nắng, đầy gió và khoảng trời xanh bên ngoài.

Chỉ hai ngày nữa thôi bạn ạ!

Mình không chúc mừng bạn được trả tự do, bởi vì bạn, mình, và hàng triệu người khác nữa chưa bao giờ có được tự do đúng nghĩa. Nếu chúc mừng bạn được trả tự do, thì hóa ra chúng mình thừa nhận việc tranh đấu vì tự do của mình là sai lầm? Và thừa nhận thứ tự do giả cầy mà người ta đang rêu rao với thế giới trên đất nước mình là có thật hay sao.

Mình chúc mừng bạn được trở về trong vòng tay của mẹ, người luôn tin tưởng và ủng hộ bạn trên mọi nẻo đường. Thật lòng mình rất kính trọng mẹ của bạn cũng như mẹ của mình. Họ là những người mẹ vĩ đại, bạn à!

Bạn thân mến, chúng ta cùng tuổi, và mình thật sự ngưỡng mộ bạn, ngưỡng mộ con đường bạn theo đuổi, và cả quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường bạn đã chọn.

Bạn không lựa chọn sự thỏa hiệp, cho dù đến hơi thở cuối cùng. Đó là điều khiến mình trăn trở rất lâu, khi lần đầu tiên được đọc tin tức về bạn.

Sinh năm 1979 – chúng ta bằng tuổi, và những lời phát biểu của bạn đã khiến rất nhiều người phải giật mình thức tỉnh, trong số đó có mình.

Chúng ta, lẽ ra theo lời khuyên, lời nhắn, và cả lời dọa dẫm của những người “nhân danh lòng yêu nước” sẽ chỉ nên chăm chú đi làm, kiếm tiền, chăm chú sắc đẹp, lo cho cuộc sống gia đình… Lẽ ra chỉ có như thế, hẳn là cuộc sống của bạn đã tươi đẹp biết bao. Nhưng bạn đã chọn một con đường không chỉ có hoa hồng, và quyết tâm theo đuổi nó đến cùng. Mình thực sự rất ngưỡng mộ bạn.

Sinh năm 1979 – năm sinh của chúng ta đánh dấu sự kiện đầy biến động trong mối quan hệ “Việt-Trung” – sự kiện mà chúng ta không được học đến trong lịch sử, để rồi cả tôi và bạn đều ngỡ ngàng và xót xa trước cái gọi là “tình hữu nghị đời đời” với kẻ thù của dân tộc mình.

Họ – “những người nhân danh lòng yêu nước” – không nói, không lên tiếng, nhưng điều đó đâu có nghĩa là họ có quyền cấm cản chúng ta tìm hiểu và bày tỏ thái độ của mình.

Họ – đã từng giận dữ khi tôi bảo họ “Hèn”.

Mà không hèn sao được, khi họ bắt bạn, bắt tôi chỉ vì chúng ta không cam chịu?

Những người sinh năm 1979, hẳn là những người rắc rối bạn nhỉ?? Thực lòng tôi đã thấy rất vui khi họ nói với tôi điều này trong “những ngày J”.

Bạn thân mến, cuộc sống với nhiều biến động đang đợi bạn ngoài kia, niềm vui xum họp gia đình hẳn sẽ là động lực lớn lao nhất với bạn trong những ngày sắp tới.

Cho tôi được xiết chặt tay bạn, với một lời chúc bình an và thật khôn ngoan tỉnh táo trong những tháng ngày sắp đến bạn nhé.

Xung quanh chúng ta là những người tốt – tôi muốn bạn tin vào điều đó để thấy cuộc sống này còn lắm mến thương.

Và quan trọng nhất là – xung quanh ta không thiếu những người giả vờ tốt – bởi nhiệm vụ và sự sinh tồn của họ buộc họ phải thế bạn à. Hẳn bạn hiểu điều này để lựa chọn cho mình một đôi giày thật hoàn hảo để “khiêu vũ giữa bầy sói” nhé bạn!

Mừng bạn trở về – một ngày trời thật xanh, nhiều gió và nhiều nắng, bạn nhé!

Mẹ Nấm

Tướng Lê Văn Hưng

LTS:  Kính gởi đến quý vị thuộc QLVNCH đặc biệt nhất là những sĩ quan thuộc QLVNCH , đọc để suy gẫm ,tự hỏi mình đang làm gì?Mình đang đứng về phía nào? Lập trường ra sao? ..Đừng phản bội những đồng đội đã hy sinh và cũng đừng phản bội lại chính mình . “Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri.“(câu nói của Tướng Hưng trước khi chết).

Các vị đứng đầu các hội đoàn quân đội đừng vì danh ảo, đừng vì đồng tiền lẻ mà bán rẻ lương tâm (tiếp tay với những con buôn với VC,những kẻ có cơ sở làm từ thiện tại VN, tiếp tay với những đảng phái bất chính ,tổ chức lừa bịp…Xin suy xét.

*( những hàng cữ màu đỏ là do toà soạn  với mục đích làm sáng ý tưởng quan trọng của bài viết)

Bà Lê Văn Hưng
(Nhũ danh Phạm Thị Kim Hoàng)

Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời  ông Thiệu nói: “Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ.” Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố  ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ  huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ  cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.

Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đày yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không ? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.


Ðài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau: “Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Ðại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì.” Họ còn hỏi nhau: “Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?” Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi: “Quân không Tướng chỉ huy thì sao?” Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai: “Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng.”


Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị  nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân  đội và quốc gia như thế nào. Ðối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân.


Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi: “Tại sao Tướng Nam, Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?” Lại có người nghiêm khắc trách tôi: “Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?” Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ  người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét “theo tầm hiểu biết của họ”. Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ  trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán  đoán vì…những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng “buông súng” rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?


Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi: “Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý  vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì  trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý  vị trịnh trọng đội lên đầu là: “Tổ  Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.” Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù  Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng. Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã  bỏ đi.


Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ  Văn Mẫu và Dương văn Minh trên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính lúc “kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất.”


Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện  đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định: “Không hợp tác với Dương văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến cùng.”


Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều  áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương văn Minh, để rồi “ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ  mình ký tên đâng nước Việt Nam cho Cộng Sản.” Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ  huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.


Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ khi nhớ đến một số  sĩ quan binh sĩ đã bật oà khóc lên khi nghe lệnh đầu hàng của Dương văn Minh. Anh em đã ôm lá  cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định đã không chịu đầu hàng. Họ  đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên  đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và hùng thế đấy.


Trong khi Sài Gòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực  đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị  cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và  bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có  nhiều địa thế chiến lược, có thể  kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở  Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.


Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Ðã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác  ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân nào đã bỏ  trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.


Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã  Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân  Ðoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Ðúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ  huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí  từ sáng đến giờ phút này.


Tìm kiếm Ðại Tá anh ninh, người mà đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ  ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm  đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Ðại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Ðại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng và sự đau khổ thất vọng của Hưng.

Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi : “Có đồng ý đem con lánh nạn không?” Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi: “Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?” Tôi đáp: “Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản.”


Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cho cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. Bốn giờ 45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ  Tư Lệnh Quân Ðoàn 4, về bộ chỉ  huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú. Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ơ nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều ngày 30 tháng 4, khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ  ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ  Huy Sư Ðoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Ðồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị  trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp.


Sáu giờ 30 chiều ngày 30 tháng 4, khi các vị sĩ  quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ  quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn. Họ gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư  cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu: “Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ  pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ  nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ  tánh khí khái, can cường…” Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó.

Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Ðôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời: “Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng.” Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi: “Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan Ðã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đã nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh.” Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp: “Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào.”


Sáu giờ 45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã  đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là  ông đã cho thu băng lời lêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Ðài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và  binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị  đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.


Bây giờ 7 giờ 30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Ðây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể  cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh: “Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị  Ðại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều  động quân về các vị trí chiến lược, trù  liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ. Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng: “Em phải sống ở lại nuôi con.” Tôi hoảng hốt: “Kìa mình, sao mình đổi ý?” “Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con.” “Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản.

Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc.” “Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta.” “Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?” Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc: “Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?” Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi: “Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế.”


Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh: “Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không gao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ  bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Ðã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ  súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào.” Tôi phát run lên hỏi: “Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?” Nắm chặt tay tôi, Hưng nói: “Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ  là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí  kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê  hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình.”


Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy: “Vâng, em xin nghe lời mình.” Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục: “Em hứa với anh đi. Hứa một lời  đi.” “Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có  quyền tự sát theo mình chứ?” Hưng suy nghĩ  giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi: “Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh.”


Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ  vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói: “Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ  nó.” Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ,  áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi: “Mau mời má và  mấy đứa nhỏ lên.” Khi mẹ tôi và  các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống.


Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ  còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm  động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói: “Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau. Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị  dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ  con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Ðừng bao giờ  để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh.”


Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Ðến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm: “Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả.” Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ  tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi. Yêu cầu mẹ tôi cố  gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả  mọi người phải ra ngoài.


Không ai chịu đi. Hưng phải sô từng người ra cửa. Tôi van xin: “Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết.” Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ  bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa: “Nghĩa trở lại với tôi.” Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như  bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ. Tiếng nổ nghe chát chúa. Tôi  đưa tay xem đồng hồ: 8 giờ 45 phút tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rảy từng cơn. Ðôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi: “Mình, mình ơi! Mình còn lời gì  dặn dò em nữa không?” Hưng không còn trả lời  được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở: “Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!” Giêng chạy vào phụ  Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào khóc: “Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!”


Tôi bảo Giêng: “Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ  ở cầu thang, bất cứ giá nào chũng phải ngăn chận Việt Cộng.” Tôi đi tìm đầu đạn và  đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết khẩu súng ở đâu. Ðến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc dộng, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé  mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.


Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam, không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang: “Alô, Alô, ai đây?” “Dạ thưa chị  đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây.” Tôi bàng hoàng: “Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?” Tôi cố  gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về  phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi: “Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút.” Tôi lúng túng vài giây: “Ông đang điều động quân ngoài kia.” “Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?” “Nghĩa đang ở  bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé.” Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi: “Ðại Tá  Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?” Nghĩa lúng túng: “Cô nói Thiếu Tướng chết rồi.” “Không thể nói như vậy được. Ðại Tá  Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng.”


Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi  đưa máy lên giọng quyết liệt: “Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Ðịch ra sao?” “Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ  y lịnh không?” “Cẩn vui lòng chờ chút.” Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ  Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết  định: “Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?” Cẩn  đáp thật nhanh; “Lúc nào cũng sẵn sang, chớ chị!” “Tốt lắm, vậy thì y lịnh.” “Dạ, cám  ơn chị.” Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ: “Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!”


“Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất  đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời  điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!” Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ  cho tôi?”

Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Ðại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.


Mười một giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Ðiện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam: “Alô, chị Hưng!” Tôi vừa khóc, vừa  đáp lời Thiếu Tướng: “Thưa Thiếu Tướng…” Giọng Tướng Nam buồn bã u uất: “Tôi biết rồi, chị Hưng. tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng.” tôi vẫn nức nở: “Thiếu Tướng nghĩ sao về  kế hoạch đã gãy đổ?” “Hưng đã nói với chị nghe hết rồi hả? Ðành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp  đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Ðại Tá…thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình.”

Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi: “Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?” “Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng đã vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?” “Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì…Ðàng chị thế nào?” “Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản. “Còn mấy chú đâu hết?” “Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng.” “Chị tẩm liệm Hưng chưa?” “Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới.” “Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp. chúng nó sẽ không để yên.”


“Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?” Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà  đến chết tôi cũng sẽ không quên: “Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế  hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót.” Người chép miệng thở dài: “Thôi chị Hưng ơi.” Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi: “Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà  không giữ được nước thì phải chết theo nước.” Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi: “Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Ðêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới.” “Dạ, cám  ơn Thiếu Tướng.”


Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Ở dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gío thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế. Viết  đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Ðại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.


Bảy giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt  đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì  Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện: Xin Thiếu Tướng tha thứ. Tôi không dám bỏ xác Hưng để đến vuốt mắt Thiếu Tướng và lo việc tẩm liệm cho Thiếu Tướng. Bây giờ linh hồn của Thiếu Tướng đã gặp Hưng, xin linh thiêng phò hộ cho mẹ con tôi thoát khỏi tay Cộng Sản. Xin thương xót cho quê hương, cho dân tộc chúng ta. Xin thương xót cho toàn thể anh em binh sĩ.


Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị  ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. Tám giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé  mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.


Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho lúc đến chết, hai Tướng Nam và  Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người. Chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Ðại Tá kia. Xin quý  vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự  của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại.

Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương.

Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Ðó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?


Ðọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: “Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống? Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn sâu chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm. Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Ðừng vô tình thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho tổ quốc.

Bà  Lê Văn Hưng
(Nhũ danh Phạm Thị Kim Hoàng)

NGUYÊN NHÂN THÀNH LẬP CỘNG ĐỒNG NVQG/WA

 

  Nguyên nhân thành lập là lý do tan rả của tổ chức cộng đồng người việt Quốc gia tiểu bang washington

Kính gởi quý độc giả !

Để có cái nhìn chính xác về cộng đồng tiểu bang WA , chúng tôi gởi đến quý độc giả cũng như các hội đoàn phần thứ nhất của bài Viết CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN TIỂU BANGWA . Hy vọng rằng với những nét đại cương về những thủ đoạn của Mặt Trận(Việt Tân bây giờ), với MT không có sự hợp tác , họ hợp tác là để sai khiến,nếu như không được là tìm cách phá “ Không lấy cũng khuấy cho hôi” là châm ngôn của họ , những thủ đoạn vặt như rĩ tai nói xấu,email nặc danh,thư rơi …như là một bửu bối của họ để triệt hạ những người ngay thẳng, đàng hoàng,có lý tưởng Quốc Gia . Một vài nét như bài viết dưới đây để đồng hương và nhất là các Hội Đoàn chọn cho mình một cách sinh hoạt hầu tránh vào ngỏ cụt cũng như lạc lối.Dưới đây chỉ là phần đầu ,kính mời quý vị đón đọc tiếp phần thứ hai nói về “Cộng Đồng Seattle và vùng phụ cận”

Vào thập niên 1990, có một tổ chức ở Seattle, tuy không gọi là Cộng Đồng nhưng về sinh hoạt có vẽ như là một tổ chức quy tụ các đoàn thể và hội đoàn chống cộng tại tiểu bang nhà, Tổ chức nầy lấy danh xung là Hội Đồng Các Hội Đòan (HĐCHĐ), Thời ấy, Liên minh Dân Chủ (LMDC) của giáo sư Nguyễn ngọc Huy còn đang mạnh và liên tục trong nhiều năm, LMDC làm chủ tổ chức HĐCHĐ, từ Hồng thiện Vân đến Lê Nhiên, Tăng phước Trọng, đều là người của Đại Việt dưới quyền chỉ đạo của Nguyễn kim Long. Sau khi giáo sư Huy qua đời, LMDC vở làm đôi, HĐCHĐ cũng chẳng còn uy tín và tự động đi vào lãng quên và biến thành Hội Đồng Không có Hội Đoàn Nào.

Vào khoảng 1997-1998 nhu cầu của Đại Việt là tái tạo một tổ chức để thay thế cho HĐCHĐ và tiếp tục nắm giử Cộng Đồng, do đó phe Nguyễn kim Long tích cực đi vận động các Hội Đoàn và Tổ Chức để nhanh chóng thành lập một tổ chức Cộng Đồng. Nhu cầu nầy của ĐV lúc ấy đã gặp một đồng minh ‘’ Đồng Sàng Dị Mộng”” là Tổ chức Mặt -Trận Hoàng cơ Minh.

Mặt Trận sau thời vàng son bưng thùng đi từng chợ trấn lột đồng hương vẫn không từ bỏ mộng làm bá chủ Cộng Đồng. Theo thông lệ, hằng năm MT chọn một thành phố trên toàn thế giới để làm ngày đại lể Quốc Khánh nhằm ngày giổ tổ Hùng Vương. Năm 1999 Seattle là thành phố đăng cai, do đó MT có kế hoạch vận động, yểm trợ cho Seattle bằng nhiều cách như cử thêm cán bộ về Seattle Tổ chức Hột thảo v.v.

Nghe phong phanh, phía Nguyễn kim Long có ý định thành lập Cộng Đồng, MT nhân cơ hội nầy bắt tay chặt chẽ với Nguyển kim Long để vận động thành lập cho bằng được Cộng Đồng tiểu bang Washington. Thâm ý của MT là sẽ dùng Cộng đồng nầy để ít nhất hổ trợ cho ngày Đại lể Quốc Khánh sắp đến, hoặc nếu được thì lấy danh nghĩa Cộng Đồng tiểu bang Washington đứng ra làm ngày Quốc Khánh, sau đó dẩu có bị phản đối thì chuyện cũng đã rồi, mà tiếng vang đã đi khắp thế giới ( ai làm gì nhau).

Nhờ cán bộ của ĐV và MT tích cực vận động cho nên ban vận động thành lập Cộng Đồng do Ô. Lê văn Luận ( cơ sở trưởng MT) đã quy tụ được khoảng trên dưới 30 hội đoàn ( trên danh nghĩa). Và sau một thời gian, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tiểu bang Washington ra đời. Đáng lý ra, phải có sự tranh dành chức chủ tịch giửa ĐV và MT, nhưng bất ngờ, con bài chủ của MT là Ô. Luận bị bệnh tim trầm trọng, do đó, Ông Lê thiện Ngọ không phải là đảng viên ĐV nhưng là người thuộc phe Nguyễn kim Long làm chủ tịch Cộng Đồng một cách êm thắm, MT nắm tất cả các chức vụ chủ chốt trong ban bệ Cộng Đồng và tích cực hổ trợ cho sinh hoạt của tổ chức nầy. Hầu như các cán bộ chủ chốt của MT tại Seattle đều nằm trong Cộng Đồng.

Cũng nên nói qua về Ô. Lê thiện Ngọ và Ô. Tăng phước Trọng, hai vi chủ tịch Cộng Đồng nầy trước khi bàn giao cho Ô. Nguyễn minh Đường

Ô. Lê thiện Ngọ nguyên là một công chức cao cấp của VNCH, vượt biên đến Mỹ đầu thập niên 1980. Hình như trước 1975, Ô Ngọ đã có văn bằng cao học. Khi đến Mỹ có lẽ Ông dành thời gian đầu để ôn mài kinh sử. Theo Ông nói là Ông đã lấy được văn bằng PhD, mặc dầu có nhiều người nghĩ là không thật nhưng chẳng quan hệ gì. Ô. Ngọ là một người có học, chịu đọc sách, xông xáo nhưng không thực tế, nóng nảy. Ưu điểm nỗi bật của Ô. Ngọ là một tinh thần chống Cộng, sau hơn mười năm sinh hoạt Cộng đồng không ai có thể dị nghị về lập trường chống Cộng của Ông. Tuy thấy ở Ô Ngọ có nhiều khuyết điểm, nhưng chỉ với lập trường chống Công của Ô., Bia Miệng luôn luôn xem Ô. Là một người có lập trường minh bạch, có thể tin cậy được trong những tình thế hiểm nghèo .

Về phần Ô. Tăng phước Trọng, Trước 1975, Ô. Là một sĩ quan không quân VNCH, qua Mỹ 1975. Là người ít tài lại đam mê cờ bạc, nhưng thích xông xáo trong Cộng đồng để được biết tên. Đáng lý ra Ô. Không có gì đáng trách nếu chỉ giử những chức vụ chạy cờ trong Cộng Đồng, Nhưng đằng này Ông lại là chủ tịch cộng đồng thành ra có nhiều người phê phán. Ai đời một chủ tịch cộng đồng mà lại không lo làm việc lợi ích cho đồng hương mà lại đi chiêu dụ đồng hương vào vòng cờ bạc bằng cách thầu các show ca nhạc quảng cáo rầm rộ cho sòng bài, Không biết Ông có biết bao nhiêu gia đình đồng hương VN đã tan gia bại sản, ly dị, con không được sống bên cha mẹ vì lúc đầu, người chồng hay vợ chỉ đến casino để nghe ca nhạc hay không?

Nay xin trở lại chuyện Cộng Đồng.

Vào mùa Noel năm 1998, MT dùng giới trẻ thuộc Hội Chuyên Gia VN tại Oregon đến Seattle tổ chức Một buổi hội thảo tại nhà hàng Trà My trên đường M.L. King, Seattle. Tại buổi hội thảo nầy, Ô. Lê thiện Ngọ có một bài phát biểu ý kiến khá dài. Sau khi khen ngợi giới trẻ dấn thân vào công cuộc đấu tranh chống cộng, Ô. Ngọ đã dứt khoát tuyên bố là không công nhận ngày giổ tổ Hùng-Vương là ngày Quốc Khánh. Việc nầy đã như một gáo nước lạnh xối vào mặt các thành viên MT trong tổ chức Cộng Đồng nên liền sau đó một loạt các thành viên trong tổ chức Cộng Đồng do Ô . Ngọ làm chủ tịch đã từ chức và rút lui coi như Cộng đồng chỉ còn một mình Ô. Ngọ vừa mủi vừa lái cọng thêm vài người không có khả năng gì. Cô lập Ô. Lê thiện Ngọ chỉ mới là một thủ đoạn nhỏ, Thâm độc hơn nữa, MT đã chơi một đòn ly gián thật ngoạn mục giửa Ô. Ngọ và Ô. Nguyễn văn Được, Hội Trưởng H.O. lúc Bấy giờ.

Ô. Ngọ và Ô. Được là hai người có quan hệ gia đình với nhau, Người vợ của Ô. Được có lảnh đồ may ở shop may của Bà Lương mỹ Dung là vợ Ô. Luận, cơ sở trưởng MT tại Seattle. Trong quan hệ chủ thợ đó, không ít thì nhiều, vợ Ô .Được cũng không thể trở mặt với bà Dung được, nếu bà Dung có nhờ mặt áo dài đen trong các buổi lể của MT thì không thể nào từ chối, hơn nữa mặt áo dài đen hát Quốc ca VNCH chứ đâu có làm gì sai trái. Do bản tính nóng nảy và không sâu sắc, Ô. Ngọ đã tin vào những lời đồn do chính phía MT đưa ra là Ô. Được đã theo MT rồi. hai bên càng xích mích thì MT lại đổ dầu vào lửa. Thật ra lúc đó Ô. Được chưa phải là người của MT. Nếu Ô. Ngọ khôn khéo, biết nhịn một chút để lôi kéo Ô. Được thì MT không thể làm gì được. Sự bất hòa của Ô. Ngọ và Ô. Được lúc bấy giờ là một đòn khá đau cho Cộng Đồng Washington.

Nói về đòn ly gián ngoạn mục, xảy ra vào ngày lể giổ tổ Hùng Vương tại trường Asa Mercer mid school nằm trên đường Columbian Seattle, Ngày hôm dó tham dự cũng khá đông, khoảng trên dưới 300 người, Trong phần mời quan khách lên bàn thờ dâng hương MT đã mời tất cả 8 người, gồm toàn những nhân vật trung ương của MT, chỉ có một người được giới thiệu là nhân sĩ, sĩ quan cao cấp QLVNCH lên cùng dâng hương, người đó là Ô. Nguyễn văn Được, trong khi ở hàng quan khách bên dưới hàng Đại tá cùng có khoảng 3 vị. (Ô. Được là cựu Trung tá không quân) tuổi đời, tuổi lính và tên tuổi trong cộng đồng hơn Ô. Được nhiều., mọi người đổ dồn mắt tìm Ô. Được, trong bụng ai nấy đều nghĩ “té ra Ô. Được là người MT thật rồi”, lúc đó Ô. Nguyễn văn Được đang đứng nói chuyện với ca sĩ Nhật Trường ngoài hành lang,thành thử không nghe được lời mời và cũng không bước lên khán đài. MT đã dán nhản hiệu lên lưng Ô. Được trước hàng trăm quan khách. cả hai Ô. Ngọ và Được một là quân nhân thuần túy, một là nóng nảy, không sâu sắc, không thể nào bình tỉnh để vô hiệu hóa tiểu xảo chính trị thâm độc nầy. Từ đó Tổ chức Cộng Đồng của Ô. Ngọ mất luôn HO và không còn bao nhiêu người hậu thuẩn, làm việc. Sau nầy bàn giao cho một người bất tài như Tăng phước Trọng thì thử hỏi làm sao mà vực dậy nổi. Từ khi bàn giao cho Trọng, đồng hương kháo nhau, nếu muốn tìm Ô. chủ tịch Cộng đồng thì cứ đến Casino thì gặp.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia thật ra đã chết từ đó, không phải đợi đến hôm nay.

Vừa rồi Ô. Tăng phước Trọng có tổ chức bầu cử lại để chính thức bàn giao cho Ô. Nguyễn minh Đường. không hiểu tương lai đi về đâu. Ô. Đường là một người có lập trường Quốc gia vững chắc, nhưng vì là một quân nhân, hơn nữa qua Mỹ muộn nên cũng có nhiều hạn chế trong việc sinh hoạt xã hội, chính trị ở Mỹ, điều đó là một hiện tượng chung của cộng đồng chúng ta, những người có lòng thì lại thiếu sức. Hiện tai Ô. Nguyện minh Đường đang nắm trong tay một tờ license cuả tiểu bang cấp, nhưng đâu phải nhờ vậy mà tổ chức CĐNVQGTBWA Sống lâu, sống khỏe, phải không Ô. Đường. Thân ái chúc Ô. chân cứng đá mềm./.

            ( Kính mời quí độc giả đón xem phần hai khá quan trọng)

                                                                                                        BM

DANH SÁCH VIỆT KIỀU VỀ DỰ ĐẠI HỘI CỦA VC

Người đứng đầu và điều khiển danh sách này là;

Thái-Thanh-Giản

(Đặc Công Tuyên vận VC ) :

Bs. Kiều Quang Chấn-Cali

• Bs. Nguyễn Ngọc Hương-Springvale

• Bs. Nguyễn Thị Thu Cúc-Richmond

• Bs. Trần Thanh Nhơn-Melbourne

• Bs.Hoàng Anh Dũng-Belgium

• Bs.Quỳnh Kiều-Cali

• Cao Huy Thuần-Pháp• Cao Lương Thiện-Si

• Cựu Nghị Nguyễn Sang-Melbourne

• Gs. Tâm Đàn-Úc

• Gs. Võ Kim Sơn-Bolsa

• Gs.Tạ Văn Tài-USA

• Hoàng Nguyên Nhuận-Sydney

• Huỳnh Tấn Lê-Cali-HHHG

• Hà Dương Tường-Pháp

• Họa sĩ Dương Văn Thành- Thụy Điển

• Hồ Lê Khoa, Chồng Bs.Cúc-Clayton

• Hồ Tú Bảo-Nhựt

• Hồ Văn Xuân Nhi Jr.-Cali

• Hồng Quang-USA

• Ks. Đỗ Anh Thư-San José -USA

• Lm. Nguyễn Đình Thi-Pháp

• Ls. Nguyễn Hữu Liêm-USA

• Lê Văn Chiêu-Cali

• Lê Văn Hướng-Sj

• Lương Cần Liêm-Pháp

• Nguyễn Cao Kỳ-USA

• Nguyễn Mỹ Lý-Úc

• Nguyễn Văn Hiếu-Melbourne

• Nguyễn Xuân Hoàng-Cali

• Nguyễn Xuân Thu- Melbourne

• Phan Mạnh Lương-USA

• Phan Văn Giưỡng-St Albans

• Phạm Trọng Luật-Pháp

• Phạm Văn Minh-Sydney

• Thích Giác Nhiên-Houston

• Thích Hạnh Tấn-Đức

• Thích Minh Tâm-Úc

• Thích Mãn Giác-USA

• Thích Nguyên Hạnh-USA

• Thích Như Điển-Đức

• Thích Phước Huệ-VESAK-Sydney

• Thích Phước Tấn-Melbourne

• Thích Quảng Ba-Canberra

• Trung Dung-V.Home Group-USA

• Trần Bình Nam-Úc

• Trần Hữu Dũng-Ohio

• Trần Văn Thọ-Nhựt

• Ts. Huỳnh Hữu Tuệ-Canada

• Ts. Lâm Như Tạng-Sydney

• Ts. Lê Dũng Tráng-Pháp

• Ts. Lê Quang Bình-USA

• Ts. Lê Văn Tâm-Đức

• Ts. Nguyễn Văn Chuyển-Nhựt

• Ts. Phạm Gia Thụ-Canada

• Ts. Thái Kim Lan-Germany

• Ts. Trương Nguyễn Trân-Pháp

• Ts. Trần Minh Tâm-Thụy Sĩ

• Ts. Trần Tiễn Khanh-USA

• Ts. Đỗ Hữu Tâm-Irvine

• Vĩnh Hảo-Houston

• Vũ Quang Việt-LHQ

• Vũ Đức Vượng-San Jose

• Đoàn Thị Thanh Tâm-Úc

• Đặng Văn Hiền- Sydney-VESAK

khai mạc

ca sĩ Ái Vân cũng về

quảng cáo hàng

GS Nguyễn Đăng Hưng

%d bloggers like this: